Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 03/08/2011 20:29 (GMT+7)

Sử dụng lõi ngô trong khẩu phần vỗ béo bò thịt

1. Đặt vấn đề

Chăn nuôi bò tỉnh Đắk Lắk đang phát triển mạnh, số lượng đàn bò năm 2009 là 206.200 con (Tổng cục Thống kê, 2010). Tổng đàn bò tăng trong khi đồng cỏ chăn thả bị thu hẹp đã làm khan hiếm thức ăn cho đàn bò một cách trầm trọng. Trước thực trạng đó, các hộ chăn nuôi đã sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp để làm thức ăn nuôi bò trong đó có lõi ngô. Lượng lõi ngô hằng năm ước tính có thể thu về 132.876 tấn chất khô (Trương La và sc, 2008). Đây là nguồn thức ăn dồi dào, rẻ tiền có thể dùng nuôi vỗ béo bò nhằm mang lại hiệu quả đáng kể về kinh tế cũng như môi trường. Sử dụng nguồn phụ phẩm này là một trong những biện pháp nhằm giải quyết sự thiếu hụt thức ăn cho đàn bò hiện nay. Tuy nhiên, lõi ngô có hàm lượng xơ cao (38,44%) (Trương La và cs, 2008) đã làm giảm giá trị dinh dưỡng của chúng. Do đó, muốn sử dụng nguồn phụ phẩm này một cách có hiệu quả cần phối hợp với các nguyên liệu khác giàu năng lượng và protein như rỉ mật, bột sắn, hạt bông, khô dầu lạc… Xuất phát từ yêu cầu đó, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm: " Sử dụng lõi ngô trong khẩu vỗ béo bò thịt".

2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:

- Phụ phẩm nông nghiệp sử dụng làm thức ăn cho bò là lõi ngô.

- Gia súc thí nghiệm: Sử dụng 24 bò đực lai Sind18 tháng tuổi.

- Thí nghiệm được thực hiện tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

- Khẩu phần vỗ béo: Xây dựng 3 khẩu phần (1; 2 và 3) có tỉ lệ lõi ngô khác nhau tương ứng: 10%; 20% và 30%. Khẩu phần thí nghiệm được trình bày tại bảng 1:

Bảng 1. Thành phần thức ăn các khẩu phần

Loại thức ăn (%)

Khẩu phần 1

Khẩu phần 2

Khẩu phần 3

Rỉ mật

40

40

40

Bột sắn

24

14

4

Lõi ngô

10

20

30

Hạt bông

11

11

11

Khô dầu lạc

13

13

13

U rê

1

1

1

Premix khoáng

1

1

1

Tổng

100

100

100

* Thành phần dinh dưỡng

Năng lượng trao đổi (MJ ME/kgCK)

9,8

9,5

9,2

Protein thô (g/kgCK)

138,8

137,6

136,4

- Bố trí thí nghiệm nuôi vỗ béo bò: Sử dụng 24 bò đực lai Sind chia làm 3 lô cho ăn theo 3 khẩu phần đương ứng tại bảng 1. Bò được nuôi trong 84 ngày. Toàn bộ bò được tẩy giun sán và cho làm quen thức ăn trong 14 ngày trước khi vỗ béo. Trong thời gian nuôi, bò được cho uống nước tự do. Thức ăn cho ăn được chia làm 2 bữa sáng và chiều.

- Các chỉ tiêu theo dõi: Tăng khối lượng; tiêu tốn thức ăn; ước tính hiệu quả kinh tế.

- Xử lý số hiệu: Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và Minitab 12.1 (1997).

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Tăng khối lượng của bò vỗ béo

Kết quả thay tăng khối lượng của bò vỗ béo được trình bày tại bảng 2.

Bảng 2. Tăng khối lượng của bò

Chỉ tiêu theo dõi

Lô 1

Lô 2

Lô 3

SEM

- KL đầu kỳ (kg)

190,9

191,4

191,1

5,2

- KL cuối kỳ (kg)

253,4

249,3

244,3

5,9

- Tăng KL BQ cả kỳ (kg/con/ngày)

0,745 a

0,689 b

0,633 c

0,033

* Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì sai khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05)

Khối lượng của các nhóm bò lúc kết thúc thí nghiệm lại khác nhau rõ rệt (P<0,05). Trong đó lô 1 (10% lõi ngô) đạt cao nhất: 253,4 kg/con, tiếp đến là lô 2 (20% lõi ngô): 249,3 kg/con và thấp nhất là lô 3 (30% lõi ngô): 244,3 kg/con. Theo đó, tăng khối lượng bình quân cả giai đoạn vỗ béo của các nhóm bò cũng khác nhau (P<0,05). Bò ở lô 1 (10% lõi ngô) cho tăng khối lượng cao nhất: 0,745 kg/con/ngày, tiếp đến là lô 2 (20% lõi ngô): 0,689 kg/con/ngày và thấp nhất là lô 3 (30% lõi ngô): 0,633 kg/con/ngày

Tăng khối lượng của bò vỗ béo giảm dần theo sự tăng lên của lõi ngô trong khẩu phần. Như vậy, tỉ lệ lõi ngô khác nhau có ảnh hưởng đến tăng khối lượng của bò thí nghiệm. Lõi ngô là loại phụ phẩm chứa nhiều xơ, do đó khi tỉ lệ lõi ngô tăng lên làm hàm lượng xơ trong khẩu phần tăng theo nên đã làm hàm lượng xơ trong khẩu phần tăng theo nên đã làm giảm khả năng tiêu hóa từ đó làm giảm khả năng tăng khối lượng của bò.

3.2. Tiêu tốn thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn (HQSDTĂ) của bò vỗ béo

Lượng thức ăn ăn vào và hiệu quả sử dụng thức ăn của các nhóm bò vỗ béo được trình bày ở bảng 3.

Bảng 3. Lượng thức ăn ăn vào và HQSDTĂ của bò vỗ béo

STT

Chỉ tiêu

Lô 1

Lô 2

Lô 3

SEM

1

Tăng KL (kg/con/ngày)

0,745 a

0,689 b

0,633 c

0,034

2

CK ăn vào (kg/con/ngày)

5,36

5,35

5,37

0,11

3

TTTĂ (kg CK/kg TT)

7,21 c

7,77 b

8,51 a

0,39

4

HQSDTĂ (gam TT/MJ ME)

14,21 a

13,54 b

12,80 c

0,66

* Các giá trị TB trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì sai khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05).

Mặc dù có sự sai khác về tăng khối lượng của các nhóm bò, song lượng chất khô ăn và giữa các nhóm bò không có sự sai khác (P>0,05). Lượng chất khô ăn và tương đương nhau giữa các nhóm bò đã cho thấy độ ngon miệng của cả 3 khẩu phần là như nhau. Bởi vì các khẩu phần đều có sử dụng một lượng rỉ mật khá cao (40%) cùng với bột sắn và các loại thức ăn giàu protein là hạt bông và khô dầu lạc đã kích thích tính ngon miệng cho bò, từ đó làm lượng thu nhận thức ăn của các lô là như nhau.

Vì tăng khối lượng của bò khác nhau trong khi lượng thức ăn ăn vào như nhau nên tiêu tốn thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của các nhóm bò có sự khác nhau đáng kể (P<0,05). Hiệu quả sử dụng thức ăn của các lô giảm dần từ lô 1 đến lô 3 và dao động từ 12,8-14,21 gam TT/MJ ME.

Giữa tỉ lệ lõi ngô trong khẩu phần và hiệu quả sử dụng thức ăn của bò có mối tương quan nghịch. Khi tăng tỉ lệ lõi ngô tăng lên thì HQSDTĂ của bò giảm.

3.3. Kết quả mổ khảo sát

Để đánh giá khả năng sản xuất và chất lượng thịt của các nhóm bò được nuôi các khẩu phần có tỉ lệ lõi ngô khác nhau, chúng tôi đã tiến hành mổ khảo sát, kết quả thành phần thịt được trình bày ở Bảng 4.

Bảng 4. Thành phần thịt mổ khảo sát của bò vỗ béo

Chỉ tiêu

Lô 1

Lô 2

Lô 3

SEM

- Số bò giết mổ (con)

3

3

3

- Khối lượng sống (kg)

255,5

249,3

250,5

4,72

- Khối lượng xẻ thịt (kg)

121,3

115,2

112,7

4,02

- Tỷ lệ thịt xẻ (%)

47,5 a

46,2 ab

45,0 b

0,76

- Khối lượng thịt tinh (kg)

101,8

95,9

94,5

3,45

- Tỉ lệ thịt tinh (%)

39,9 a

38,5 ab

37,7 b

1,07

* Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chức khác nhau thì sai khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05)

Tỉ lệ thịt xẻ của các nhóm bò có xu hướng giảm dần từ lô 1 đến lô 3. Cụ thể lô 1 (10% lõi ngô): 47,5%; lô 2 (20% lõi ngô): 46,2%; lô 3 (30% lõi ngô): 45,0%. Tỉ lệ thịt xẻ của bò ở lô 1 có sai khác với lô 3 (P<0,05) nhưng giữa lô 1 với lô 2 và giữa lô 2 với lô 3 là tương đương nhau (P>0,05). Tương tự như vậy, tỉ lệ thịt tinh của bò cũng giảm dần từ lô 1 đến lô 3.

Như vậy, tỉ lệ lõi ngô trong khẩu phần có ảnh hưởng đến tỉ lệ thịt xẻ và tỉ lệ thịt tinh của bò vỗ béo. Tỉ lệ lõi ngô tăng lên trong khẩu phần làm giảm tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh của bò vỗ béo. Tỉ lệ lõi ngô tăng lên trong khẩu phần làm giảm tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh của bò mặc dù với lượng không nhiều. Bởi vì bò được nuôi thức ăn nhiều xơ thì tỉ lệ nội tạng càng cao sẽ làm giảm tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh (Cục Khuyến nông và Khuyến lâm, 2005)

Thành phần hóa học của cơ thăn là chỉ số thường được dùng để đánh giá phẩm chất thịt. Khảo sát các chỉ tiêu về hàm lượng chất khô, protein thô, lipid thô và khoáng tổng số của thịt thăn các nhóm bò vỗ béo, kết quả được trình bày tại Bảng 5.

Bảng 5. Thành phần hóa học của thịt bò vỗ béo

Chỉ tiêu (%)

Lô 1

Lô 2

Lô 3

SEM

- Chất khô

26,06

26,56

26,91

0,58

- Protein

21,21

20,70

20,45

1,15

- Lipid

4,55

4,07

3,99

0,33

- Khoáng tổng số

1,39

1,41

1,32

0,15

Mặc dù giữa các nhóm bò vỗ béo có sự khác nhau về tỉ lệ thịt xẻ và tỉ lệ thịt tinh nhưng không thấy có sự sai khác về hàm lượng chất khô và protein thô. Như vậy, các tỉ lệ lõi ngô thay đổi khác nhau của các khẩu phần chưa làm ảnh hưởng đến thành phần hóa học của thịt bò.

3.4. Ước tính hiệu quả kinh tế vỗ béo

Mục đích của nuôi vỗ béo bò ngoài việc tận dụng nguồn phụ phẩm đang dư thừa làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường thì hiệu quả kinh tế cũng là một trong các chỉ tiêu được quan tâm. Qua nuôi vỗ béo trong thời gian 84 ngày bằng các khẩu phần có sử dụng lõi ngô với các tỉ lệ khác nhau, ước tính hiệu quả kinh tế được trình bày tại bảng 6.

Bảng 6. Ước tính hiệu quả kinh tế của bò vỗ béo

Chỉ tiêu

Lô 1

Lô 2

Lô 3

* Chi:

6.639.767

6.530.946

6.410.070

- Tiền mua bò (đ/con)

4.471.875

4.784.375

4.778.125

- Tiền mua thức ăn (đ/con)

1.867.892

1.746.571

1.631.945

* Thu: Tiền bán bò (đ/con)

7.222.969

7.103.625

6.962.906

- Chênh lệch thu - chi (đ/con)

583.202

572.679

552.836

- Thu nhập/con tháng (đ/con)

194.401

190.893

184.279

Giá thức ăn giảm dần từ lô 1 đến lô 3 cùng với sự tăng lên của lõi ngô trong khẩu phần. Bởi vì, lõi ngô có giá rẻ hơn các nguyên liệu khác (700đ/kg). Vì vậy, thu nhập/con/tháng giữa các lô chênh lệch không đáng kể. Lô 1 cho thu nhập 194.410 đ; lô 2: 190.893đ và lô 3: 184.279 đ/con/tháng.

4. Kết luận và đề nghị

4.1 Kết luận

Các tỉ lệ lõi ngô khác nhau trong khẩu phần có ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn, khả năng sản xuất và chất lượng thịt của bò vỗ béo:

- Tỉ lệ lõi ngô tăng từ 10%; 20% và 30% thì khả năng tăng khối lượng của các nhóm bò giảm; tiêu tốn thức ăn tăng tương ứng (tăng khối lượng khẩu phần 1,2 và 3 lần lượt: 0,745; 0,689; 0,633 kg/con/ngày; TTTĂ lần lượt: 7,21; 7,77; 8,51kg CK/kg TT).

- Tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh giảm dần theo sự tăng lên của lõi ngô. Tỉ lệ thịt xẻ đạt: 45,0-47,5%; tỉ lệ thịt tinh: 37,7 - 39,9%.

4.2. Đề nghị

Áp dụng khẩu phần vỗ béo bò có tỉ lệ 10% đến 20% lõi ngô vào sản xuất.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.