Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 03/08/2011 20:29 (GMT+7)

Sử dụng lõi ngô trong khẩu phần vỗ béo bò thịt

1. Đặt vấn đề

Chăn nuôi bò tỉnh Đắk Lắk đang phát triển mạnh, số lượng đàn bò năm 2009 là 206.200 con (Tổng cục Thống kê, 2010). Tổng đàn bò tăng trong khi đồng cỏ chăn thả bị thu hẹp đã làm khan hiếm thức ăn cho đàn bò một cách trầm trọng. Trước thực trạng đó, các hộ chăn nuôi đã sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp để làm thức ăn nuôi bò trong đó có lõi ngô. Lượng lõi ngô hằng năm ước tính có thể thu về 132.876 tấn chất khô (Trương La và sc, 2008). Đây là nguồn thức ăn dồi dào, rẻ tiền có thể dùng nuôi vỗ béo bò nhằm mang lại hiệu quả đáng kể về kinh tế cũng như môi trường. Sử dụng nguồn phụ phẩm này là một trong những biện pháp nhằm giải quyết sự thiếu hụt thức ăn cho đàn bò hiện nay. Tuy nhiên, lõi ngô có hàm lượng xơ cao (38,44%) (Trương La và cs, 2008) đã làm giảm giá trị dinh dưỡng của chúng. Do đó, muốn sử dụng nguồn phụ phẩm này một cách có hiệu quả cần phối hợp với các nguyên liệu khác giàu năng lượng và protein như rỉ mật, bột sắn, hạt bông, khô dầu lạc… Xuất phát từ yêu cầu đó, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm: " Sử dụng lõi ngô trong khẩu vỗ béo bò thịt".

2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:

- Phụ phẩm nông nghiệp sử dụng làm thức ăn cho bò là lõi ngô.

- Gia súc thí nghiệm: Sử dụng 24 bò đực lai Sind18 tháng tuổi.

- Thí nghiệm được thực hiện tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

- Khẩu phần vỗ béo: Xây dựng 3 khẩu phần (1; 2 và 3) có tỉ lệ lõi ngô khác nhau tương ứng: 10%; 20% và 30%. Khẩu phần thí nghiệm được trình bày tại bảng 1:

Bảng 1. Thành phần thức ăn các khẩu phần

Loại thức ăn (%)

Khẩu phần 1

Khẩu phần 2

Khẩu phần 3

Rỉ mật

40

40

40

Bột sắn

24

14

4

Lõi ngô

10

20

30

Hạt bông

11

11

11

Khô dầu lạc

13

13

13

U rê

1

1

1

Premix khoáng

1

1

1

Tổng

100

100

100

* Thành phần dinh dưỡng

Năng lượng trao đổi (MJ ME/kgCK)

9,8

9,5

9,2

Protein thô (g/kgCK)

138,8

137,6

136,4

- Bố trí thí nghiệm nuôi vỗ béo bò: Sử dụng 24 bò đực lai Sind chia làm 3 lô cho ăn theo 3 khẩu phần đương ứng tại bảng 1. Bò được nuôi trong 84 ngày. Toàn bộ bò được tẩy giun sán và cho làm quen thức ăn trong 14 ngày trước khi vỗ béo. Trong thời gian nuôi, bò được cho uống nước tự do. Thức ăn cho ăn được chia làm 2 bữa sáng và chiều.

- Các chỉ tiêu theo dõi: Tăng khối lượng; tiêu tốn thức ăn; ước tính hiệu quả kinh tế.

- Xử lý số hiệu: Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và Minitab 12.1 (1997).

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Tăng khối lượng của bò vỗ béo

Kết quả thay tăng khối lượng của bò vỗ béo được trình bày tại bảng 2.

Bảng 2. Tăng khối lượng của bò

Chỉ tiêu theo dõi

Lô 1

Lô 2

Lô 3

SEM

- KL đầu kỳ (kg)

190,9

191,4

191,1

5,2

- KL cuối kỳ (kg)

253,4

249,3

244,3

5,9

- Tăng KL BQ cả kỳ (kg/con/ngày)

0,745 a

0,689 b

0,633 c

0,033

* Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì sai khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05)

Khối lượng của các nhóm bò lúc kết thúc thí nghiệm lại khác nhau rõ rệt (P<0,05). Trong đó lô 1 (10% lõi ngô) đạt cao nhất: 253,4 kg/con, tiếp đến là lô 2 (20% lõi ngô): 249,3 kg/con và thấp nhất là lô 3 (30% lõi ngô): 244,3 kg/con. Theo đó, tăng khối lượng bình quân cả giai đoạn vỗ béo của các nhóm bò cũng khác nhau (P<0,05). Bò ở lô 1 (10% lõi ngô) cho tăng khối lượng cao nhất: 0,745 kg/con/ngày, tiếp đến là lô 2 (20% lõi ngô): 0,689 kg/con/ngày và thấp nhất là lô 3 (30% lõi ngô): 0,633 kg/con/ngày

Tăng khối lượng của bò vỗ béo giảm dần theo sự tăng lên của lõi ngô trong khẩu phần. Như vậy, tỉ lệ lõi ngô khác nhau có ảnh hưởng đến tăng khối lượng của bò thí nghiệm. Lõi ngô là loại phụ phẩm chứa nhiều xơ, do đó khi tỉ lệ lõi ngô tăng lên làm hàm lượng xơ trong khẩu phần tăng theo nên đã làm hàm lượng xơ trong khẩu phần tăng theo nên đã làm giảm khả năng tiêu hóa từ đó làm giảm khả năng tăng khối lượng của bò.

3.2. Tiêu tốn thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn (HQSDTĂ) của bò vỗ béo

Lượng thức ăn ăn vào và hiệu quả sử dụng thức ăn của các nhóm bò vỗ béo được trình bày ở bảng 3.

Bảng 3. Lượng thức ăn ăn vào và HQSDTĂ của bò vỗ béo

STT

Chỉ tiêu

Lô 1

Lô 2

Lô 3

SEM

1

Tăng KL (kg/con/ngày)

0,745 a

0,689 b

0,633 c

0,034

2

CK ăn vào (kg/con/ngày)

5,36

5,35

5,37

0,11

3

TTTĂ (kg CK/kg TT)

7,21 c

7,77 b

8,51 a

0,39

4

HQSDTĂ (gam TT/MJ ME)

14,21 a

13,54 b

12,80 c

0,66

* Các giá trị TB trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì sai khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05).

Mặc dù có sự sai khác về tăng khối lượng của các nhóm bò, song lượng chất khô ăn và giữa các nhóm bò không có sự sai khác (P>0,05). Lượng chất khô ăn và tương đương nhau giữa các nhóm bò đã cho thấy độ ngon miệng của cả 3 khẩu phần là như nhau. Bởi vì các khẩu phần đều có sử dụng một lượng rỉ mật khá cao (40%) cùng với bột sắn và các loại thức ăn giàu protein là hạt bông và khô dầu lạc đã kích thích tính ngon miệng cho bò, từ đó làm lượng thu nhận thức ăn của các lô là như nhau.

Vì tăng khối lượng của bò khác nhau trong khi lượng thức ăn ăn vào như nhau nên tiêu tốn thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của các nhóm bò có sự khác nhau đáng kể (P<0,05). Hiệu quả sử dụng thức ăn của các lô giảm dần từ lô 1 đến lô 3 và dao động từ 12,8-14,21 gam TT/MJ ME.

Giữa tỉ lệ lõi ngô trong khẩu phần và hiệu quả sử dụng thức ăn của bò có mối tương quan nghịch. Khi tăng tỉ lệ lõi ngô tăng lên thì HQSDTĂ của bò giảm.

3.3. Kết quả mổ khảo sát

Để đánh giá khả năng sản xuất và chất lượng thịt của các nhóm bò được nuôi các khẩu phần có tỉ lệ lõi ngô khác nhau, chúng tôi đã tiến hành mổ khảo sát, kết quả thành phần thịt được trình bày ở Bảng 4.

Bảng 4. Thành phần thịt mổ khảo sát của bò vỗ béo

Chỉ tiêu

Lô 1

Lô 2

Lô 3

SEM

- Số bò giết mổ (con)

3

3

3

- Khối lượng sống (kg)

255,5

249,3

250,5

4,72

- Khối lượng xẻ thịt (kg)

121,3

115,2

112,7

4,02

- Tỷ lệ thịt xẻ (%)

47,5 a

46,2 ab

45,0 b

0,76

- Khối lượng thịt tinh (kg)

101,8

95,9

94,5

3,45

- Tỉ lệ thịt tinh (%)

39,9 a

38,5 ab

37,7 b

1,07

* Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chức khác nhau thì sai khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05)

Tỉ lệ thịt xẻ của các nhóm bò có xu hướng giảm dần từ lô 1 đến lô 3. Cụ thể lô 1 (10% lõi ngô): 47,5%; lô 2 (20% lõi ngô): 46,2%; lô 3 (30% lõi ngô): 45,0%. Tỉ lệ thịt xẻ của bò ở lô 1 có sai khác với lô 3 (P<0,05) nhưng giữa lô 1 với lô 2 và giữa lô 2 với lô 3 là tương đương nhau (P>0,05). Tương tự như vậy, tỉ lệ thịt tinh của bò cũng giảm dần từ lô 1 đến lô 3.

Như vậy, tỉ lệ lõi ngô trong khẩu phần có ảnh hưởng đến tỉ lệ thịt xẻ và tỉ lệ thịt tinh của bò vỗ béo. Tỉ lệ lõi ngô tăng lên trong khẩu phần làm giảm tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh của bò vỗ béo. Tỉ lệ lõi ngô tăng lên trong khẩu phần làm giảm tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh của bò mặc dù với lượng không nhiều. Bởi vì bò được nuôi thức ăn nhiều xơ thì tỉ lệ nội tạng càng cao sẽ làm giảm tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh (Cục Khuyến nông và Khuyến lâm, 2005)

Thành phần hóa học của cơ thăn là chỉ số thường được dùng để đánh giá phẩm chất thịt. Khảo sát các chỉ tiêu về hàm lượng chất khô, protein thô, lipid thô và khoáng tổng số của thịt thăn các nhóm bò vỗ béo, kết quả được trình bày tại Bảng 5.

Bảng 5. Thành phần hóa học của thịt bò vỗ béo

Chỉ tiêu (%)

Lô 1

Lô 2

Lô 3

SEM

- Chất khô

26,06

26,56

26,91

0,58

- Protein

21,21

20,70

20,45

1,15

- Lipid

4,55

4,07

3,99

0,33

- Khoáng tổng số

1,39

1,41

1,32

0,15

Mặc dù giữa các nhóm bò vỗ béo có sự khác nhau về tỉ lệ thịt xẻ và tỉ lệ thịt tinh nhưng không thấy có sự sai khác về hàm lượng chất khô và protein thô. Như vậy, các tỉ lệ lõi ngô thay đổi khác nhau của các khẩu phần chưa làm ảnh hưởng đến thành phần hóa học của thịt bò.

3.4. Ước tính hiệu quả kinh tế vỗ béo

Mục đích của nuôi vỗ béo bò ngoài việc tận dụng nguồn phụ phẩm đang dư thừa làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường thì hiệu quả kinh tế cũng là một trong các chỉ tiêu được quan tâm. Qua nuôi vỗ béo trong thời gian 84 ngày bằng các khẩu phần có sử dụng lõi ngô với các tỉ lệ khác nhau, ước tính hiệu quả kinh tế được trình bày tại bảng 6.

Bảng 6. Ước tính hiệu quả kinh tế của bò vỗ béo

Chỉ tiêu

Lô 1

Lô 2

Lô 3

* Chi:

6.639.767

6.530.946

6.410.070

- Tiền mua bò (đ/con)

4.471.875

4.784.375

4.778.125

- Tiền mua thức ăn (đ/con)

1.867.892

1.746.571

1.631.945

* Thu: Tiền bán bò (đ/con)

7.222.969

7.103.625

6.962.906

- Chênh lệch thu - chi (đ/con)

583.202

572.679

552.836

- Thu nhập/con tháng (đ/con)

194.401

190.893

184.279

Giá thức ăn giảm dần từ lô 1 đến lô 3 cùng với sự tăng lên của lõi ngô trong khẩu phần. Bởi vì, lõi ngô có giá rẻ hơn các nguyên liệu khác (700đ/kg). Vì vậy, thu nhập/con/tháng giữa các lô chênh lệch không đáng kể. Lô 1 cho thu nhập 194.410 đ; lô 2: 190.893đ và lô 3: 184.279 đ/con/tháng.

4. Kết luận và đề nghị

4.1 Kết luận

Các tỉ lệ lõi ngô khác nhau trong khẩu phần có ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn, khả năng sản xuất và chất lượng thịt của bò vỗ béo:

- Tỉ lệ lõi ngô tăng từ 10%; 20% và 30% thì khả năng tăng khối lượng của các nhóm bò giảm; tiêu tốn thức ăn tăng tương ứng (tăng khối lượng khẩu phần 1,2 và 3 lần lượt: 0,745; 0,689; 0,633 kg/con/ngày; TTTĂ lần lượt: 7,21; 7,77; 8,51kg CK/kg TT).

- Tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh giảm dần theo sự tăng lên của lõi ngô. Tỉ lệ thịt xẻ đạt: 45,0-47,5%; tỉ lệ thịt tinh: 37,7 - 39,9%.

4.2. Đề nghị

Áp dụng khẩu phần vỗ béo bò có tỉ lệ 10% đến 20% lõi ngô vào sản xuất.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.
Hải Phòng: Chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sáng 26/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố (Liên hiệp hội) Hải Phòng phối hợp với Hội Điện tử và Tin học thành phố, Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Duyên hải Bắc Bộ (VCCI Duyên hải Bắc Bộ) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Hải Phòng thông qua chuyển đổi số toàn diện”.