Sốt "thung lũng Rift" - bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
Sốt thung lũng Rift (Rift Valley Fever - RVF) là một bệnh truyền nhiễm virus được xếp vào nhóm các bệnh sốt xuất huyết(SXH) - bao gồm SXH dengue, các bệnh Ebola, Marburg, bệnh nhiễm hantavirus... Cũng như bệnh Ebola, RVF cho tới nay chỉ xảy ra ở châu Phi. Nhưng nó hiện diện gần như ở toàn bộ lục địa này, và do đặc điểm lây truyền virus, trong thời đại vận chuyển hàng không phản lực ngày nay, nguy cơ RVF “nhảy” sang lục địa khác là có thật, và một cơn bộc phát RVF như ở Kenya hiện nay cũng khiến các nước nhiệt đới khác trên thế giới phải cảnh giác.
Tác nhân gây bệnh RVF là một virusthuộc họ Bunyaviridae (bao gồm hantavirus), thường lây truyền qua trung gian của nhiều giống muỗi, gây nhiễm cho gia súc, đặc biệt là cừu và bò, và đôi khi gây dịch cho người - như tại Ai Cập và Mauritania trong những năm 1980 - 1990. Riêng muỗi Aedes giữ một vai trò dịch tễ đặc biệt, vì trứng của nó có thể chứa đựng virus nằm tiềm ẩnlúc khô hạn; mưa to khiến trứng nở thành muỗi, làm dấy lên quy trình lây truyền muỗi - gia súc - muỗi. RVF còn lây sang cho người (thợ mổ, người bán thịt, nhân viên thú y, người chăn nuôi…) qua tiếp xúc trực tiếp hay hít phải các hạt khí dung máu và nước ối gia súcbị nhiễm.
Sau thời gian ủ bệnh (2 - 5 ngày), bệnh khởi phát đột ngộtvới các chứng sốt, khó chịu, lạnh, đau cơ nặng, đau lưng dưới, nhức đầu, nhức sau nhãn cầu, sợ sáng, chán ăn... Sốt kéo dài khoảng 4 ngày rồi thoái lui. Nhưng một số bệnh nhân bị sốt trở lại sau 2 - 3 ngày cùng với các triệu chứng khác, kèm theo buồn nôn, ói mửa, mặt đỏ bừng, mắt đỏ, và đôi khi phát ban.
Đáng nói hơn là các biến chứngnghiêm trọng của RVF:
Viêm nãocó thể xảy ra 1 - 2 tuần sau giai đoạn sốt, với các biểu hiện: nhức đầu, cứng gáy, cứng lưng, buồn nôn, chóng mặt, lẫn tâm thần, lơ mơ, thậm chí hôn mê, nhưng hiếm khi gây tổn thương não thực thể.
Viêm thần kinh thị giáclàm giảm thị lực một hay hai bên; viêm võng mạc có thể để lại khuyết tật thị lực trung tâm.
Viêm gan kết hợp với xuất huyếtlà biến chứng nặng nhất và là nguyên nhân chính gây tử vong, với các biểu hiện: chảy máu cam, ói ra máu, tiêu ra máu, vết bầm nơi tiêm chích; có thể tiến đến đông máu nội mạch, thiếu máu, giảm bạch cầu và tiểu cầu, xuất huyết dưới vỏ thận và viêm gan. Người bệnh thường tử vong do xuất huyết tiêu hóa ồ ạt, giảm niệu, vô niệu, suy thận cấp, có khi do hoại tử cơ tim. Nếu may mắn sống sót thì thời gian hồi phục sẽ kéo dài.
Tỷ lệ ca bệnh/ca nhiễm chỉ vào khoảng 1%; nhưng tỷ lệ ca chết/ca bệnh có thể lên đến 50% (ở Kenya là 80/220). Chẩn đoánxác định RVF căn cứ vào các xét nghiệm phân lập virus và test huyết thanh ELISA.
Việc điều trịcần được tiến hành sớm - trước khi chẩn đoán xác định - bằng thuốc kháng virus ribavirin tiêm tĩnh mạch và các biện pháp hỗ trợ. Người bệnh cần được cách ly, và nhân viên y tế cần mặc áo choàng và giày ủng bảo vệ cũng như đeo khẩu trang và mang găng tay hai lớp khi tiếp xúc. Những người có tiếp xúc nguy cơ cao cần được điều trị bằng ribavirin uống.
Tránh tiếp xúc với gia súc bệnh, và không được xẻ thịt mà phải chôn xác cẩn thận. Việc kiểm soát và dự phòngRVF bao gồm các biện pháp diệt muỗi và tiêm vaccin cho cừu, bò cũng như cho người chăn nuôi và nhân viên thú y.








