Sinh sản nhân tạo cá bông lau
ThS. Trịnh Quốc Trọng cho biết, sau nhiều năm nuôi cá bông lau và theo dõi đặc tính sinh sản của chúng, bước đầu Trung tâm đã thành công trong việc sinh sản nhân tạo giống cá này. Đàn cá bông lau bố mẹ được tập hợp từ vùng cửa sông Trần Đề (huyện Long Phú, Sóc Trăng) trong năm 2003 và 2004. Cá được chuyển về nuôi trong bè và trong ao ở các địa điểm thuộc tỉnh Tiền Giang và Đồng Tháp. Trong năm 2005 cá đã có dấu hiệu thành thục, nhưng tỉ lệ cá thành thục còn thấp, chỉ khoảng dưới 5%. Năm 2006 đàn cá đã thành thục tốt hơn, tỉ lệ thành thục đạt khoảng 25%, hệ số thành thục cao nhất đạt 3%. Thành công này sẽ đưa thêm đối tượng mới vào nghề nuôi cá da trơn ở vùng ĐBSCL.
Cá bông lau thuộc họ cá da trơn, là loài cá quý, từ lâu được người dân ĐBSCL ưa chuộng do thịt cá thơm ngon hơn cá tra, cá basa nhiều lần. Nhu cầu tiêu thụ rất lớn, là món đặc sản ở các quán ăn, nhà hàng. Cá bông lau được thương lái thu mua từ người dân với giá 25.000 - 40.000 đồng/kg tùy loại, giá tại chợ là 70.000 đ/kg loại cá từ 7 kg trở lên. Loài cá này, trước đây từng được các nhà khoa học nghiên cứu đưa vào nuôi thương phẩm tại ĐBSCL nhưng chưa cho sinh sản nhân tạo thành công.
Cá bông lau (Pangasius krempfi) phân bố ở sôngMekong, sông và bãi ven biển Nam ViệtNam. Cá trưởng thành chủ yếu ăn quả, tảo sợi và giáp xác; cá đạt kích thước đến 80 cm. Hàng năm, từ tháng 2 đến tháng 6, ngư dân đổ về sông Hậu câu cá bông lau, có con nặng trên 10 kg, nhiều ngư dân có kinh nghiệm câu cá (mồi câu là con gián) trúng đậm đủ sức nuôi cả nhà sau một mùa câu. Cá bông lau là một trong số rất ít các loài cá của sôngMekongcó một khoảng thời gian trong đời sống ở biển. Nó cũng là loài cá có đường di cư dài nhất (loài thứ hai là cá tra dầu). Cá con thường sống ở biển Đông, khi đạt đến kích thước nhất định, chúng quay trở lại sông và cuối cùng là di cư ngược dòng tìm nơi sinh sản. Đây cũng là thời điểm mà ngư dân ĐBSCL bước vào mùa săn cá bông lau.
Nguồn: Khoa học phổ thông27/10/2006







