Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 14/05/2008 14:54 (GMT+7)

Sáng chế của Việt Nam: Đăng ký quốc tế quá ít

Trong 10 năm qua, các nước Đông Bắc Á được đánh giá nổi lên thành những trung tâm mới về sáng chế của thế giới, với tỉ lệ số đơn đăng ký ra nước ngoài ngày càng tăng. Trong khi đó, sau hơn 30 năm là thành viên của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), nhưng số lượng đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài của Việt Nam vẫn còn rất “khiêm tốn”.

Năm 2007, Nhật có 27.731 đơn đăng ký sáng chế Hàn Quốc có 7.061 đơn Trung Quốc có 5.456 đơn và Việt Nam có... 5 đơn!
Năm 2007, Nhật có 27.731 đơn đăng ký sáng chế Hàn Quốc có 7.061 đơn Trung Quốc có 5.456 đơn và Việt Nam có... 5 đơn!
Việt Nam: Đăng ký sáng chế quốc tế quá ít
Để nâng cao năng lực của hệ thống sở hữu trí tuệ (SHTT)quốc gia, trong nhiều năm qua, Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam (National Office of Intellectual Property of VietNam - NOIP)đã nỗ lực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực SHTT, với các nước như Mỹ, Nhật,Thuỵ Sĩ, và với các tổ chức như Liên minh châu Âu, Cơ quan Sáng chế Châu Âu (EPO)... nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về SHTT, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về SHTT, trang bị cáckiến thức cần thiết về SHTT cho các doanh nghiệp, 

Đơn sáng chế đã được nộp ở NOIP từ 2000 đến 2007

Năm

Người VN nộp đơn

Người nước ngoài nộp đơn

Tổng số

2000

34

1205

1239

2001

52

1234

1286

2002

69

1142

1211

2003

78

1072

1150

2004

103

1328

1431

2005

180

1767

1947

2006

196

1970

2166

2007

219

2641

2860

Đồng thời, sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam – bao gồm các qui định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó – đã tạo ra một nền tảng pháp lý vững chắc cho sự phát triển của các hoạt động SHTT tại Việt Nam.

Sau khi Luật này có hiệu lực vào ngày 1/7/2006, số đơn đăng ký sáng chế nộp cho NOIP đã tăng mạnh trong năm 2007, phản ánh một xu hướng tích cực trong hoạt động sở hữu trí tuệ và cũng cho thấy khả năng sáng tạo của người Việt trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật đang được cải thiện. Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng, có sự chênh lệnh rất lớn giữa số đơn do người Việt Nam nộp và số đơn do người nước ngoài nộp. Trong năm 2007, số đơn của người Việt chiếm chưa tới 8% tổng số đơn. 

Song, điều đáng quan tâm là số đơn đăng ký PCT (Patent Cooperation Treaty – PCT- xem giải thích ở Box bên dưới) từ Việt Nam ra nước ngoài đã không song hành với mức tăng của đơn đăng ký sáng chế trong nước.

Trong nhiều năm qua, Singapore luôn dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về số đơn đăng ký sáng chế theo PCT.

Theo số liệu của WIPO, trong giai đoạn 2002-2007, tổng số đơn PCT của Singapore là 2.504 đơn, Malaysia có 264 đơn, Philippines 116 đơn, Thái Lan 53 đơn, trong khi Việt Nam chỉ có vỏn vẹn... 26 đơn. 

Đông Bắc Á vươn lên
Theo các báo cáo của WIPO, từ năm 2002 đến nay, tỉ lệ phát triển rất cao về số lượng đơn đăng ký quốc tế sáng chế theo PCT (Hiệp ước Hợp tác sáng chế) được ghi nhận ở các nước Đông Bắc Á, nhất là Hàn Quốc và Trung Quốc. Hiện nay, hai nước này cùng với Nhật đang nằm trong nhóm 10 nước xuất xứ có số lượng đơn đăng ký quốc tế PCT (đơn PCT) nhiều nhất.

Đơn sáng chế PCT của một số nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á

Nước

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Nhật

14.063

17.414

20.264

24.869

27.033

27.731

Hàn Quốc

2,520

2,949

3.558

4.688

5.944

7.061

Trung Quốc

1.018

1.295

1.706

2.503

3.951

5.456

Singapore

330

282

431

443

476

542

Malaysia

18

-

45

38

60

103

Philippine

20

21

11

26

23

15

Thái Lan

9

7

12

9

11

5

Indonesia

16

2

6

8

8

9

Việt Nam

2

7

2

-

10

5

Hàn Quốc, với mức tăng đơn PCT trong năm 2006 là 26,6% so với năm 2005, đã vượt qua Anh và Pháp để giành lấy vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng của WIPO về nước xuất xứ của đơn PCT, chỉ sau 3 “đại gia” vốn chiếm giữ các ngôi đầu trong nhiều năm qua là Mỹ, Nhật và Đức. Tương tự, Trung Quốc, với mức tăng là 56,8%, đã thế chỗ Thuỵ Sĩ và Thuỵ Điển để giữ hạng 8 trong danh sách.

Sang năm 2007, Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí thứ 4, trong khi Trung Quốc vượt lên đứng hạng 6 trong danh sách 15 nước xuất xứ hàng đầu về PCT. Ba thứ hạng đầu vẫn không thay đổi, và Mỹ vẫn giữ hạng 1 với số đơn PCT chiếm đến 33,5% trong tổng số đơn PCT của toàn thế giới.

Ở Việt Nam số người quan tâm tới sáng chế nhiều, nhưng đơn đăng ký sáng chế ít.
Ở Việt Nam số người quan tâm tới sáng chế nhiều, nhưng đơn đăng ký sáng chế ít.
Ông Francis Gurry, Phó Tổng Giám đốc WIPO, nhận xét: “Số đơn đăng ký sáng chế quốc tế đang tiếp tục tăng đầy ấn tượng từ các nước Đông Bắc Á. Những nền kinh tế đang phát triển mạnh đó đã biếtsử dụng hệ thống tài sản trí tuệ của mình như là một công cụ để tạo ra sự giàu có”. Ông nhấn mạnh rằng, chính những trung tâm mới của sáng chế đang nổi lên ở Đông Bắc Á đã dần làm thay đổi bảnđồ của hệ thống sáng chế thế giới và tác động tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu”.

Theo WIPO, xu hướng của hoạt động sáng chế là dấu hiệu phản ánh sự chuyển đổi đang diễn ra trong hoạt động công nghiệp trên toàn thế giới. Ở từng nước, tình hình phát triển của hoạt động đăng ký sáng chế quốc tế phản ánh khả năng hội nhập của nước đó vào hoạt động công nghiệp toàn cầu.

Do đó, nếu xem xét theo cách nhìn này của WIPO thì Việt Nam , với số lượng đơn PCT quá ít như hiện nay, vẫn chưa thực sự bước vào vòng quay ngày càng nhanh của nền công nghiệp thế giới.

Sơ Lược về Hiệp ước hợp tác về sáng chế (PCT)

Hiệp ước hợp tác về sáng chế ( Patent Cooperation Treaty – PCT) được ký tại Washington vào ngày 19/6/1970, có hiệu lực từ ngày 24/1/1978, và được bổ sung, sửa đổi trong các năm 1979, 1984 và 2001. Tinh đến 3/4/2008, PCT có 139 quốc gia thành viên. Việt Nam là thành viên của PCT từ ngày 10/3/1993.

PCT tạo điều kiện cho người nộp đơn có thể đồng thời đăng ký sáng chế ở các nước thành viên, khởi đầu bằng việc nộp đơn quốc tế cho cơ quan nhận đơn, trong đó có chỉ định các nước mà người nộp đơn muốn sáng chế được bảo hộ. Ở từng nước này, đơn quốc tế nói trên có giá trị như là đơn quốc gia nộp trực tiếp cho cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia (tại nước ta là Cục Sở hữu trí tuệ - NOIP).

Đơn xin bảo hộ sáng chế ở bất kỳ nước thành viên nào của Hiệp ước được gọi là “Đơn quốc tế”. Đơn này phải được viết bằng ngôn ngữ quy định, phải đáp ứng được các yêu cầu về mặt hình thức và tính thống nhất của sáng chế. Kèm theo đơn quốc tế là các tài liệu: Bản mô tả sáng chế, một hoặc một số yêu cầu bảo hộ, một hoặc số bản vẽ, và lệ phí theo qui định của Hiệp ước.

Ngay sau khi nhận đơn, cơ quan nhận đơn phải kiểm tra xem sáng chế nêu trong đơn có thuộc diện sáng chế bí mật theo quy định của nước mình hay không. Nếu sáng chế này thuộc diện bí mật thì cơ quan nhận đơn sẽ thông báo cho người nộp đơn biết rằng đơn đó không được nộp theo PCT.

Theo quy định của Hiệp ước, các nước thành viên sẽ từ chối không cấp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế được nêu trong đơn quốc tế trong những trường hợp: Việc bảo hộ sáng chế đó là trái với pháp luật của nước thành viên được yêu cầu bảo hộ; Việc bảo hộ sáng chế đó ảnh hưởng tới an ninh quốc gia hoặc các quyền lợi kinh tế của nước thành viên được chỉ định.  (Nguồn: WIPO; Wikipedia) 

Nguồn: vnn.vn 13/5/2008

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.