Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/06/2008 15:19 (GMT+7)

Sản xuất lương thực Việt Nam trong giai đoạn cận suy thoái kinh tế thế giới

Nhìn lại những diễn biến về thị trường lúa gạo trong mấy tháng nay, chúng ta thấy rằng sau khi Việt Nam trúng thầu vào đầu tháng 2/2008 cung cấp 300.000 tấn gạo cho Philippines với giá 320 USD/tấn loại 25% tấm và 340 USD/tấn loại 5% tấm, thì giá gạo Philippines bỗng nhiên tăng từ 18 P/kg (tương đương 7.020 đồng) lên 12.400 đồng/kg, và giữa tháng 4/2008 lên đến 14.820 đồng/kg (tương đương 775 USD/tấn). Chính phủ Philippines dự báo vụ lúa tới sẽ trúng mùa, nhưng thấy vật giá leo thang, những nhà giàu lo mua gạo dự trữ khiến cho bọn đầu cơ không đưa gạo ra thị trường. Cơ quan Lương thực của Nhà nước phải xuất kho dự trữ để bán phân phối với giá bù lỗ 7.020 đồng/kg cho dân nghèo. Đồng thời cảnh sát Philippinesđang truy lùng bọn đầu cơ gạo, và cho đến ngày 14/4 đã bắt 16 nhà đầu cơ (phần lớn là người Philippines gốc Hoa). Vì lúa của Philippines chưa gặt, mà kho dự trữ sắp cạn, Tổng thống Philippines, Gloria Arroyo đã điện thoại cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xin mua gạo khẩn cấp với giá 700 USD mỗi tấn. Giá gạo tăng đột biến lại xuất phát từ chính Philippines , nước có Viện Quốc tế nghiên cứu lúa (IRRI) từ gần 40 năm nay. Các chuyên gia đã phân tích tình trạng thiếu gạo của Philippines là vì trong khi dân số tăng rất nhanh (nay đã gần 100 triệu vì không có chính sách kế hoạch hóa gia đình), Nhà nước đã vội vã chuyển đất lúa cho các công trình đô thị hóa và công nghiệp hóa trong khi nông dân mất đất không có việc làm lại rất đông. Trong khi đó, tình hình sản xuất lúa của một số quốc gia Đông Nam Á cũng không suôn sẻ: Indonesia, Bangladesh và miền Trung Việt Nam bị ngập lũ, miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam bị rét kéo dài đã làm thiệt hại một số diện tích cây lương thực; miền Nam Việt Nam lại bị rầy nâu và bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá phá hại đôi chút. Tất cả đã khiến nguồn cung cấp gạo cho thị trường quốc tế bị giảm đáng kể.

Giá gạo tăng đột biến lại xuất phát từ chính Philippines , nước có Viện Quốc tế nghiên cứu lúa (IRRI) từ gần 40 năm nay. Các chuyên gia đã phân tích tình trạng thiếu gạo của Philippines là vì trong khi dân số tăng rất nhanh (nay đã gần 100 triệu vì không có chính sách kế hoạch hóa gia đình), Nhà nước đã vội vã chuyển đất lúa cho các công trình đô thị hóa và công nghiệp hóa trong khi nông dân mất đất không có việc làm.

Trong khi đó, nhu cầu về gạo lại tăng nhanh từ đầu năm 2008, mà nguồn gốc sâu xa có thể qui về chính sách năng lượng mới khuyến khích sử dụng ngũ cốc (bắp, lúa mì) để lên men tạo rượu cồn ethanol thay thế xăng của Mỹ. Năm 2005, Tổng thống Mỹ G. Bush ký ban hành luật “ An toàn năng lượng thế kỷ 21” buộc giảm sử dụng xăng dầu bằng cách pha nguyên liệu sinh học (cồn ethanol, dầu biodiesel) vào xăng dầu (năm 2006 pha 3%; 2009 pha 5%; 2012 pha 10% và tới năm 2017 là 15% ethanol). Từ đó, nông dân trồng bắp của Mỹ đã đua nhau xây nhà máy chưng cất cồn ethanol, khiến giá bắp từ 1,6 USD/bushel (36 lít) lên 3,27 USD/bushel. Lượng ethanol sản xuất vượt qua khả năng chuyên chở nên bị ứ đọng và rớt giá từ 2 USD/gal (3,8 lít) xuống còn 1,55 USD/gal. Thêm vào đó, sản lượng lúa mì của châu Úc sản xuất cũng bị giảm do hạn hán, nên giá bột mì tăng gần gấp 3 lần trong vòng 2 năm qua, khiến cho những quốc gia từng lệ thuộc vào bột mì và bắp không mua nổi giá cao đó, họ chuyển sang sử dụng gạo, đẩy nhu cầu gạo tăng lên.

Một lý do khác khiến thiếu hụt ngũ cốc là sự thay đổi tập quán ăn của những người dân khá giả. Họ thích ăn nhiều thịt và cá hơn là ăn nhiều cơm như trước. Lượng hạt lương thực cho người đã được các công ty chế biến thức ăn gia súc và cá tôm sử dụng ngày càng tăng.

Không thể nói “vì để kiềm chế lạm phát” và “để bảo đảm an toàn lương thực quốc gia” mà không cho xuất khẩu gạo. Trước hết, tình trạng lạm phát của Việt Nam là do điều hành vĩ mô chưa hiệu quả. Và “bảo đảm an toàn lương thực” lại là một lý do khó chấp nhận vì vụ đông xuân 2007-2008 của ĐBSCL vẫn trúng mùa.

Tóm lại, khối lượng ngũ cốc (gạo, bắp, lúa mì) bị giảm trong khi nhu cầu tăng quá nhanh, kết hợp tình trạng con buôn đầu cơ đã khiến cho giá các hạt lương thực tăng nhanh, đúng theo qui luật cung cầu của nền kinh tế thị trường.
Ngày 15/4/2008, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan đã lên đến 1.000 USD/tấn loại 25% tấm. Trong giai đoạn này chỉ có Thái Lan hưởng lợi, trong khi nông dân Việt Nam phải bó tay, ngậm ngùi nhìn gạo của mình chỉ được các công ty quốc doanh của nhà nước mua dễ dàng với giá quá rẻ so với giá của nông dân đồng nghiệp ở Thái Lan. Tôi nghĩ đây là một sự thiệt thòi lớn cho nông dân ĐBSCL. Chúng ta không thể nói “vì để kiềm chế lạm phát” và “để bảo đảm an toàn lương thực quốc gia” mà không cho xuất khẩu gạo. Trước hết, tình trạng lạm phát của Việt Nam , trầm trọng hơn các nước láng giềng, không phải do gạo lên giá mà là do điều hành vĩ mô chưa hiệu quả (bắt đầu cội rễ từ quyết định cho lên giá xăng dầu, đến những đầu tư công kém hữu hiệu). Và “bảo đảm an toàn lương thực” lại là một lý do khó chấp nhận vì vụ đông xuân 2007-2008 của ĐBSCL vẫn trúng mùa, theo đánh giá của Bộ trưởng Cao Đức Phát và qua quan sát đồng ruộng các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang, Tiền Giang. Và vụ hè thu 2008 đã bắt đầu mạnh. Chúng ta có thể thu hoạch mùa lúa mới chỉ trong vòng 80-90 ngày với những giống lúa cao sản, kháng rầy nâu. Nói cách khác, lý do không xuất khẩu gạo để “bảo đảm an toàn lương thực” là khó được bà con nông dân của ĐBSCL chấp nhận. Chúng tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước ưu tiên ủng hộ người nông dân nghèo ở ĐBSCL hơn là quá ưu tiên cho những tầng lớp khác.

Việt Nam chúng ta có thể làm gì?

Đề nghị các tỉnh không nên khuyến khích nông dân trồng giống lúa chất lượng cao, mà chỉ nên trồng giống lúa cao sản kháng rầy nâu. Đây là thời buổi thế giới cần có nhiều gạo để ăn, không nhất thiết phải có gạo ngon.

Vừa qua, Bộ NN&PTNT đã có họp với các tỉnh ĐBSCL, và cho phép nông dân làm vụ 3. Đó là một hướng đi hợp lý. Thêm vào đó, chúng tôi đề nghị các tỉnh không nên khuyến khích nông dân trồng giống lúa chất lượng cao, mà chỉ nên trồng giống lúa cao sản kháng rầy nâu. Chúng ta nên thấy rằng Việt Nam không có khả năng cạnh tranh với Thái Lan để xuất khẩu gạo cao cấp, vì giống lúa thơm của Thái Lan thật sự rất thơm, nhưng dài ngày và năng suất thấp (khoảng 3 tấn/ha). Họ có nhiều gạo để xuất khẩu vì diện tích lúa của họ trên 10 triệu ha (ta thì chỉ còn dưới 4 triệu ha) mà dân của họ chưa đến 70 triệu. Thái Lan thì không có nơi nào sản xuất đại trà 7 tấn/ha như của Việt Nam vì chúng ta trồng giống cao sản ngắn ngày kháng rầy nâu, 3 vụ/năm đến 7 vụ/2 năm. Đây là thời buổi thế giới cần có nhiều gạo để ăn, không nhất thiết phải có gạo ngon. Vì vậy, nếu ta trồng giống kháng rầy năng suất cao, Việt Nam sẽ liên tục sản xuất nhiều gạo hơn mà không phải lo chống diệt rầy nâu, bệnh lúa rất tốn kém như trong vài năm qua.

Song song với lúa, Nhà nước và các tỉnh nên xem lại qui hoạch để tìm ra các vùng sản xuất cây trồng khác lúa. Chúng ta nên khuyến khích nông dân tăng gia trồng khoai lang, khoai mì và bắp ở các vùng khó khăn vì đất và nước tưới. Quy hoạch cơ cấu, diện tích cây trồng phải hài hoà và rất thận trọng, không nên xoá diện tích cây công nghiệp vội. Vì sao? Vì rút kinh nghiệm khủng hoảng gạo của Nhật Bản -Trung Quốc năm 1995. Sau năm đó, Việt Nam và Trung Quốc đều tập trung gia tăng trồng lúa. Nhưng mùa lúa 1996 của Nhật lại bình thường, họ không nhập của Trung Quốc nữa, và do đó Trung Quốc không nhập gạo của Việt Nam . Giá gạo trở lại bình thường, phá tan hy vọng bán giá cao của Việt Nam .

Bây giờ, cả nông dân Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ đều đang tập trung trồng lúa cao sản, ở Philippinesvà Indonesia cũng vậy. Liệu giá gạo sẽ tiếp tục tăng cao hay không? Câu trả lời có thể là “sẽ tiếp tục tăng, nhưng không quá cao như hiện nay.” Giá 1.000 USD/tấn chỉ là nhất thời khi lượng cung còn ít như hiện nay mà thôi. Thái Lan bán được giá cao một phần nhờ Chính phủ Việt Namgiúp - cấm xuất khẩu gạo Việt Nam .

Vấn đề đầu cơ tích trữ gạo như ở Philippines từ hai tháng qua, như đã nói ở trên, nay có hiện tượng lan rộng khắp nơi trên thế giới, ngay tại các nước đang có đầy đủ gạo như Hoa Kỳ, Thái Lan, và Việt Nam. Dấu hiệu tích trữ để đầu cơ có thể được quan sát trên các tỉnh ĐBSCL hiện nay: nhiều doanh nghiệp và thương lái thu mua và giữ lúa gạo, nông dân mới gặt lúa đông xuân muộn cũng muốn giữ lúa lại chờ giá, hoặc đòi bán giá cao theo hướng giá của Thái Lan, nơi mà giá gạo liên tục tăng từ đầu tháng 4-2008 đến nay. TCT Lương thực Việt Namcũng sẽ bán cho Philippines với giá 1.200 USD/tấn gạo. Lịch sử khan hiếm gạo luôn lặp lại vì bọn đầu cơ lương thực gây ra. Nếu Nhà nước không mạnh tay với bọn đầu cơ tích trữ thì họ sẽ lũng đoạn nền kinh tế. Tôi nghe kể lại trong lịch sử miền Nam Việt Nam, khoảng năm 1966 khi Ông Nguyễn Cao Kỳ còn là Thủ tướng, gạo trở nên hiếm, giá gạo bị đẩy lên gấp 3 lần. Ông Kỳ cho mời 12 người đầu nậu mua bán lúa gạo vào Dinh Độc lập, viết tên họ trong 12 tấm phiếu rồi nói với họ rằng nếu trong vòng 24 tiếng đồng hồ mà giá gạo không xuống thì Ông bốc ra phiếu tên ai thì sẽ xử bắn người đó. Ngày hôm sau giá gạo trở lại bình thường.

Nguồn: T/c Tia sáng, 6/5/2008

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.