Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 28/03/2012 20:50 (GMT+7)

Rộng mở cửa ngõ Tây Nam bộ

Nghịch lý của vùng sông nước

Tây Nam bộ (hay còn gọi là khu vực ĐBSCL) nằm trong tiểu vùng sông Mê Kông, 3 mặt tiếp giáp biển, ở vào vị trí trung tâm của ASEAN, rất thuận lợi cho giao thương quốc tế. Đây là vùng đồng bằng trù phú, là nơi phát sinh chủ yếu của nông sản, thủy sản xuất khẩu, với dân số chiếm trên 20% dân số cả nước, đóng góp khoảng 20% GDP của cả nước. Từ hàng trăm năm nay, với mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phân bố rộng khắp, giao thông đường thủy có vai trò rất quan trọng trong vận tải hàng hoá ở ĐBSCL. Theo dự báo, đến năm 2020 nhu cầu lượng hàng thông qua của khu vực ĐBSCL đạt khoảng 54-74 triệu tấn. Theo quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (Bộ GTVT đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt), trên sông Hậu sẽ phát triển, mở rộng, xây dựng mới nhiều cảng biển lớn như cảng Cần Thơ với các khu bến Cái Cui, khu bến Hoàng Diệu-Bình Thủy, khu bến Trà Nóc-Ô Môn; Cảng biển Trà Cú Trà Vinh; Cảng biển Đại Ngãi tại Sóc Trăng; Cảng biển Bình Minh tại Vĩnh Long; Cảng biển Nam Cái Cui-Hậu Giang; Cảng biển Mỹ Thới-An Giang; Cảng biển Lấp Vò-Đồng Tháp.

Có thể nói, nhu cầu và tiềm năng phát triển vận tải biển của khu vực rất lớn. Tuy nhiên, như một nghịch lý, trong nhiều năm qua, một trong những khó khăn lớn đối với vận tải đường biển của khu vực là bài toán giải quyết luồng vào sông Hậu cho các tàu biển trọng tải lớn. Nguyên nhân là do cửa Định An vào sông Hậu có các vùng nước nông mở rộng, những bãi cạn dịch chuyển liên tục và bồi lấp nhanh. Hàng năm nhà nước đều bố trí kinh phí lớn để nạo vét duy tu nhưng không hiệu quả vì chỉ duy trì được độ sâu luồng tàu trong thời gian ngắn từ 1- 2 tháng. Hiện tại, chỉ có tàu biển có trọng tải dưới 5.000 tấn có thể ra vào các cảng trên sông Hậu qua cửa Định An. Lượng hàng hóa vận tải đường biển trực tiếp qua cửa Định An chiếm không quá 20% tổng lượng hàng của ĐBSCL. Đại bộ phận khoảng 70% - 80% hàng hóa còn lại của ĐBSCL đều phải trung chuyển qua khu vực cảng Tp. Hồ Chí Minh, làm tăng thời gian, giảm chất lượng hàng hóa, phát sinh chi phí vận chuyển xếp dỡ hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm, lưu kho bãi và tăng giá thành
của hàng hóa xuất khẩu nguyên liệu, tốn kém và thiệt hại về kinh tế là rất lớn.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một luồng tàu biển trọng tải 10.000 tấn trở lên vào cảng Cần Thơ và các cảng trên sông Hậu là yêu cầu cấp bách, là mong mỏi từ nhiều năm của chính quyền và nhân dân các tỉnh ĐBSCL.

Quá trình nghiên cứu

Từ những năm tám mươi của thế kỷ trước, Nhà nước đã nhiều lần cho tiến hành nạo vét nâng cấp cải tạo cửa Định An song kết quả đạt được rất hạn chế. Từ năm 1997, nhiều tổ chức tư vấn có uy tín của nước ngoài cũng đã được mời, để phối hợp với tư vấn trong nước nghiên cứu tìm phương án cải tạo theo hướng sử dụng cửa Định An hoặc Trần Đề làm luồng cho tàu biển trọng tải trên 5.000 tấn ra vào cảng Cần Thơ. Những nghiên cứu chính với kinh phí lớn, có sự tham gia của tư vấn quốc tế điển hình là:

- Atlas thủy đạc sông Mêkông, khảo sát đo đạc địa hình với quy mô toàn diện lòng sông từ Tân Châu đến cửa Định An và vùng cửa Định An (1995 ÷ 1999).

- Nghiên cứu cải tạo nâng cấp luồng từ cửa sông Hậu vào cảng Cần Thơ của HAECON (tư vấn Bỉ) và các đối tác trong nước (1998 ÷ 2000). Khảo sát bổ sung các yếu tố về điều kiện tự nhiên trong đó chú trọng các yếu tố thủy văn, thủy triều, dòng chảy, độ mặn, độ đục v.v... làm cơ sở để sử dụng các phần mềm tính toán mạnh, hiện đại phân tích đánh giá mức độ sa bồi, biến đổi về địa hình thái học của lòng dẫn vùng cửa sông.

Tư vấn Bỉ đã xem xét nghiên cứu 6 phương án cải tạo nâng cấp luồng (trong đó có 5 phương án tuyến luồng tại cửa Định An và 1 phương án tuyến luồng tại cửa Trần Đề). HAECON kiến nghị áp dụng phương án duy trì một “luồng động” có độ sâu đến -4,7 m CD (độ sâu tính từ mực nước thấp nhất của mực nước biển tại khu vực này) cho tàu 5.000 tấn lợi dụng triều qua cửa vào sông và thường xuyên phải điều chỉnh trục luồng chạy tàu theo dòng chảy chính để lợi dụng độ sâu luồng tự nhiên, chỉ nạo vét các đoạn cạn cục bộ.

Trên cơ sở các nghiên cứu trên, Bộ GTVT, Cục Hàng hải Việt Nam đã cho tiến hành nạo vét nhiều lần, nhiều đợt theo các tuyến luồng trên vùng cửa Định An. Khối lượng nạo vét lớn nhất là 1,45 triệu m3 (năm 1983), các năm tiếp theo khoảng 200 ÷ 600 ngàn m3. Kết quả không đem lại như mong muốn bởi thời gian duy trì luồng sau nạo vét chỉ được 1 ÷ 2 tháng.

Đột phá

Nhiều nhà khoa học ví von cửa Định An như “nồi cháo loãng” để chỉ diễn biến phức tạp của tuyến lạch chính và sự dịch chuyển của các bãi cạn cửa sông. Tính “bất kham” của tuyến luồng cũng làm “đau đầu” không ít các nhà quản lý và nhà khoa học trong suốt một thời gian dài. Tuy nhiên, những khó khăn và thách thức không làm các nhà khoa học chùn chân.

Từ những năm 2002 đến 2004, tư vấn quốc tế SNC LAVALIN (Cananda) cùng các đối tác HASKONING (Hà Lan) và PORTCOAST (Việt Nam) kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây, trên cơ sở khảo sát bổ sung, rà soát và thiết lập hệ thống các Mô hình toán đánh giá lại toàn bộ các khả năng và giải pháp cải tạo luồng cửa Định An, Trần Đề, sông Hậu, đã mạnh dạn chuyển hướng nghiên cứu một tuyến luồng mới tránh cửa Định An để ra biển tại khu vực có thềm sa bồi ít nhất, ít chịu ảnh hưởng của bùn cát đổ về từ hệ thống sông. Các nghiên cứu cho thấy phương án tận dụng kênh Quan Chánh Bố và đào mới một đoạn kênh (tạm gọi là kênh đào Trà Vinh hoặc kênh Tắt) là phương án khả thi về tài chính, xã hội, kinh tế, kỹ thuật và môi trường, giải pháp có tính lâu dài bền vững hạn chế được nhiều các biến động của luồng lạch vùng cửa vào. Phương án lựa chọn cho phép mở luồng cho tàu 10.000 tấn đầy tải và 20.000 tấn vơi tải (có tận dụng triều) vào sông Hậu theo tần suất 2 lần trong ngày và quanh năm, được lựa chọn làm phương án đầu tư.

Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận tại văn bản số 123/TTg-CN ngày 20/01/2007 và Bộ Giao thông vận tải phê duyệt Dự án tại quyết định số 3744/QĐ-BGTVT ngày 30/11/2007 bao gồm các hạng mục công trình chính như sau: Luồng tàu 1 chiều dài 40 km, trong đó đoạn luồng sông dài 6 km, đoạn kênh Quan Chánh bố dài 19 km, đoạn kênh Tắt đào mới cắt qua đất liền dài 9 km và đoạn luồng biển dài 6 km; Khu tránh tàu; Đê biển; Kè bảo vệ bờ; Bến phà; Bến sà lan 500 T; Cầu đường bộ qua kênh Tắt; Đường ven luồng; Nhà quản lý, hệ thống phao tiêu báo hiệu và thiết bị thông tin hàng hải. Tổng khối lượng nạo vét để đào kênh mới và cải tạo các đoạn kênh hiện hữu tới cao độ -6,5m hệ hải đồ khoảng 28 triệu m3. Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng trên 5.000 tỷ đồng.

Với một sự thận trọng cần thiết, trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện dự án, Cục Hàng hải Việt Nam đã tổ chức nhiều đợt hội thảo. Các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học tên tuổi trong nước và các tổ chức tư vấn quốc tế đã được tiếp thu. Những tư vấn hàng đầu trong nước và quốc tế được lựa chọn để thực hiện tư vấn khảo sát thiết kế cho dự án, đó là PortCoast (Việt Nam) liên danh cùng Nippon Koei (Nhật Bản) và thầu phụ là Viện Nghiên cứu thủy lực Đan Mạch – DHI – nơi sản sinh ra phần mềm nổi tiếng Mike ứng dụng cho tính toán thủy lực sông biển.

Sau hơn 1 năm với nhiều đợt khảo sát biển, khoan địa chất và đo đạc chế độ thủy – hải văn, tập trung nghiên cứu nhiều kịch bản mô hình toán và thiết kế kỹ thuật, ngày 27/12/2009, Bộ GTVT và UBND tỉnh Trà Vinh đã chính thức tổ chức khởi công xây dựng công trình.

Như vậy là sau hơn 20 năm nghiên cứu, với rất nhiều trăn trở và thách thức, dự án Luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu đã chính thức khởi công xây dựng. Hàng loạt cảng biển hiện hữu tại khu vực Cần Thơ đang chờ đón dự án này, hàng loạt các dự án cảng biển mới, các dự án trung tâm điện lực… đang chờ đón tuyến luồng mới, và hơn hết, cả một vùng đồng bằng trù phú với khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ đạt khoảng 25 – 30 triệu tấn trong vòng một thập kỷ tới đang chờ đón dự án này. Ước vọng về một cửa ngõ lớn ở miền Tây Nam tổ quốc đã được mở ra.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.