Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 19/09/2008 23:39 (GMT+7)

Quy trình GAP, hướng đi tất yếu: Bài học nhãn tiền

Xa vời mục tiêu xuất khẩu, sản xuất nhỏ lẻ, không tập trung, nhà máy thiếu nguyên liệu, đầu tư dàn trải... là những nguyên nhân khiến Đề án rau quả và hoa, cây cảnh giai đoạn 1999-2010 (gọi tắt là Đề án rau quả) với số vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng của Bộ Nông nghiệp và PTNT thất bại. Bài học rút ra từ Đề án này chính là hãy đặt ra những mục tiêu sao cho sát thực tế, không nên chạy theo phong trào.

Xa vời mục tiêu xuất khẩu

Mục tiêu mà Đề án rau quả đặt ra là, đến năm 2010 tiêu thụ nội địa cho cây rau đạt 80 kg/người/năm, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2005 đạt 350 triệu USD và 1,1 tỷ USD vào năm 2010.

Không cần chờ tới mốc thời gian quy định, đến năm 2006, sản lượng rau của cả nước đã đạt 9,6 triệu tấn, bình quân 100 kg/người/năm. Như vậy, mục tiêu đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ rau trong nước của Đề án đã hoàn thành.

Trong khi đó, cái đích kim ngạch xuất khẩu đạt 1,1 tỷ USD vào năm 2010 được nhiều người cho là “không tưởng” bởi thực tế, kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 2004 mới đạt 60% kế hoạch so với chỉ tiêu đề ra năm 2005 và bằng 20% năm 2010. Đến năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước mới chỉ đạt 280 triệu USD. Để đạt được mục tiêu mà Đề án đặt ra, trong những năm tiếp theo, ngành rau quả phải phấn đấu kim ngạch hàng năm tăng 100 triệu USD, tốc độ tăng bình quân khoảng 50%/năm, trong khi đó, tỷ trọng xuất khẩu của ngành chỉ chiếm 3-5% tổng sản lượng hàng năm, thậm chí một vài năm trở lại đây kim ngạch xuất khẩu có xu hướng giảm.

PGS. TS Trần Khắc Phi, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) cho rằng, Đề án rau quả bộc lộ nhiều bất cập như mục tiêu đề ra chưa sát, xác định đối tượng cây trồng chưa chuẩn, tập trung đầu tư quá lớn cho các nhà máy chế biến.

Nhiều ý kiến cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến Đề án rau quả thất bại là do nhiều loại rau được đầu tư, trồng xuất khẩu như măng tây, khoai sọ, đậu tương,... có giá trị thấp. Bên cạnh đó, sản lượng rau bình quân đầu người tuy vượt 40% so với yêu cầu, nhưng người tiêu dùng vẫn chưa thật sự yên tâm về chất lượng. Cho đến nay, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên rau quả vẫn còn là bài toán khó giải của ngành nông nghiệp.

Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT) Nguyễn Trí Ngọc thừa nhận, khi xây dựng Đề án rau quả, do chưa tính đến yếu tố nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nên nhiều chỉ tiêu đặt ra, nhất là kim ngạch xuất khẩu đã không sát và đổ vỡ là tất yếu.

Sản xuất manh mún, chưa hình thành vùng hàng hoá

Năm 1999, Bộ Nông nghiệp và PTNT ký tờ trình gửi Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển rau quả và hoa, cây cảnh giai đoạn 1999 -2010 với tổng vốn là 16.080 tỷ đồng. Tuy nhiên, Chính phủ chỉ phê duyệt một mục tiêu định lượng là xuất khẩu đến năm 2010 đạt 1,1 tỷ USD. Sau gần 8 năm triển khai, Đề án phải dừng lại vì mục tiêu khó đạt, xa rời thực tế. Tháng 7/2007, Đề án này được thay thế bằng Quy hoạch phát triển rau quả và hoa, cây cảnh đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.

Việc nông dân vẫn sản xuất theo kinh nghiệm và phương pháp truyền thống, diện tích manh mún, nhỏ lẻ (bình quân 200-300m2/hộ cho rau và 1.000m2/hộ cho hoa hoặc quả) cũng góp phần khiến Đề án khó thành hiện thực. Trong khi đó, hạ tầng cơ sở yếu, lại thiếu đồng bộ, thường phải sử dụng chung với cây lương thực và cây công nghiệp nên khó đảm bảo chất lượng.

Công tác quy hoạch vùng nguyên liệu còn nhiều bất cập, chưa cụ thể cho từng vùng, địa phương và loại rau quả. Việc xác định quy mô, địa điểm một số cơ sở chế biến chưa phù hợp với khả năng cung cấp nguyên liệu trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, điểm xuất phát thấp. Thậm chí, một số doanh nghiệp chưa coi trọng phát triển vùng nguyên liệu, đùn đẩy trách nhiệm cho địa phương khiến tình hình sản xuất luôn trong tình trạng bị động, thiếu nguyên liệu.

Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Lê Huy Ngọ chỉ rõ, Đề án rau quả mới chỉ ưu tiên đầu tư xây dựng nhà máy mà bỏ ngỏ việc phát triển vùng nguyên liệu, áp dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch, lựa chọn giống cây trồng có chất lượng, năng suất cao... Hệ thống quản lý, cung cấp giống cho nông dân chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ.Đây là nguyên nhân dẫn tới sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, không hình thành các vùng nông sản hàng hóa tập trung.

Hội chứng nhà máy to, vùng nguyên liệu nhỏ

Sản xuất rau an toàn ở phường Giang Biên (Long Biên - Hà Nội).
Sản xuất rau an toàn ở phường Giang Biên (Long Biên - Hà Nội).
Nhiều ý kiến cho rằng, thất bại lớn nhất của Đề án rau quả chính là việc không gắn kết được nhà máy chế biến với vùng nguyên liệu.Theo Cục Chế biến, Thương mại nông - lâm - thuỷ sản vànghề muối (Bộ Nông nghiệp và PTNT), cả nước hiện có 24 nhà máy và 48 cơ sở chế biến. Tuy nhiên, hầu hết các nhà máy luôn trong tình trạng “đói” nguyên liệu. Nhà máy hoạt động cao nhất mới chỉ đạt 60%công suất, cá biệt có nhà máy gần như chỉ hoạt động 1-2% công suất.

Công ty Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (Ninh Bình) có 4 dây chuyền sản xuất với công suất chế biến nước dứa cô đặc là 5.000 tấn, nước quả tự nhiên 1.500 tấn, đông lạnh IQF 1.500 tấn và dứa hộp 10.000 tấn sản phẩm/năm. Hàng năm, diện tích trồng dứa của Công ty lên tới 3.350ha, trong đó có 1.630ha dứa kinh doanh, sản lượng 36.000 - 38.000 tấn/năm. Tuy nhiên, sản lượng trên cũng chỉ đủ cho dây chuyền sản xuất dứa đồ hộp. Nếu chạy đủ công suất, Công ty sẽ thiếu nguyên liệu trầm trọng.

Một trường hợp khác là Công ty Thực phẩm xuất khẩu Kiên Giang. Mặc dù tọa lạc giữa vùng nguyên liệu rộng lớn 9.000ha dứa, song, nhà máy vẫn hoạt động cầm chừng vì đây là vùng cung cấp dứa cho các nhà máy chế biến tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Mặt khác, vùng sản xuất dứa chủ lực của Kiên Giang thường bị lũ lụt nên việc canh tác không ổn định. Bản thân công ty này cũng có một nông trường rộng tới 2.800ha, song, chỉ trồng được 540ha, cho 700 tấn quả/vụ, đáp ứng gần 20% nhu cầu nguyên liệu.

Ngoài dứa, cà chua nguyên liệu cũng không đáp ứng đủ nhu cầu chế biến. Liên tiếp trong nhiều năm liền, Nhà máy Chế biến cà chua Hải Phòng lao đao vì thiếu nguyên liệu sản xuất. Hàng loạt biện pháp đã được triển khai để có vùng nguyên liệu như hỗ trợ giống, ký kết hợp đồng với nông dân..., song đều không đem lại hiệu quả do trục trặc về thời tiết, giống, sâu bệnh, cơ chế thu mua. Vụ đầu tiên (1999 - 2000), nhà máy chỉ sản xuất được 80 tấn sản phẩm (đạt 2,1% công suất), vụ tiếp (2001-2002) thu mua được 1 tấn (đạt 0,03%) và vụ 2003-2004 khoảng 50 tấn (đạt 1,3%). Từ đó đến nay, Nhà máy vẫn trong tình trạng tương tự.

Ông Phạm Quốc Doanh, Phó vụ trưởng Vụ Nông nghiệp (Văn phòng Chính phủ) nhận định, chúng ta chưa có định hướng cho nhà đầu tư nên hầu hết các cơ sở chế biến đều không hiệu quả. Sau một thời gian triển khai, tổng diện tích rau quả đạt 1,27 triệu hecta (đạt 97% kế hoạch so với mục tiêu 1,31 triệu hecta năm 2010), sản lượng gần 13,9 triệu tấn (bằng 70% kế hoạch). Tuy diện tích, sản lượng tăng, song tại khu vực sản xuất nguyên liệu tập trung cho chế biến công nghiệp thì năng suất, chất lượng rau quả còn thấp. Điều này cho thấy “lỗ hổng” lớn trong ngành chế biến rau quả và hoa, cây cảnh là hội chứng nhà máy to, vùng nguyên liệu nhỏ.

Bài học đắt giá củaĐề án rau quả sẽ là cơ sở để những nhà quản lý khi đặt bút ký và triển khai quy hoạch mới phải cân nhắc nếu không muốn lặp lại sai lầm.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.