Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 06/06/2012 21:14 (GMT+7)

Quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình và việc bảo tồn giữ gìn phát triển các công trình kiến trúc văn hóa Phật Giáo

Trên địa bàn tỉnh có 770 ngôi chùa nằm trên 267 xã, phường, thị trấn với tổng diện tích nội ngoại tự là 1.957.900 m 2, số chùa có tăng ni trụ trì là 340, có 109 chùa được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia, 92 chùa được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Đặc biệt là chùa Keo được công nhận di tích lịch sử văn hóa đặc biệt của Quốc gia, là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo của vùng đồng bằng Bắc bộ và trong toàn quốc… đó là chưa kể đến hàng trăm ngôi đền, đình, miếu trong tỉnh, có những đền lớn như đền Trần, đền Tân La ở huyện Hưng Hà, đền Đồng Bằng ở huyện Quỳnh Phụ…

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Bình đã xây dựng đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới với mục tiêu là:

“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, đời sống nhân dân ổn định và phát triển”.

Đặc biệt tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 18 vừa qua (tháng 10 - 2010) đã đề ra mục tiêu quan trọng là phấn đấu đến năm 2020, Thái Bình sẽ trở thành tỉnh đạt các tiêu chí của tỉnh nông thôn mới.

Thực hiện chủ trương đề ra, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Bình đã chọn 8 xã làm điểm đó là xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương, Quang Minh, huyện Quỳnh Phụ, Trọng Quan, huyện Đông Hưng, Nguyên Xá huyện Vũ Thư, Thụy Trình huyện Thái Thụy, Hồng Minh huyện Hưng Hà, An Ninh huyện Tiền Hải, Vũ Phúc thành phố Thái Bình, đồng thời chỉ đạo việc lập quy hoạch xong trong năm 2010 và tập trung dồn điền đổi thửa thực hiện quy hoạch sản xuất hàng hóa tập trung, chỉ đạo xây dựng theo quy hoạch khu trung tâm xã, xây dựng cơ sở hạ tầng được phê duyệt, xây dựng các quy chế quản lý theo các tiêu chí đề ra, xây dựng kế hoạch đào tạo nghề và huy động vốn để xây dựng nông thôn mới.

Trước đây, khi chưa xây dựng hệ thống quy hoạch xây dựng nông thôn mới, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các huyện và thành phố đã hết sức quan tâm đến công tác tôn giáo trong đó có việc bảo tồn, giữ gìn, phát triển các công trình văn hóa Phật giáo nói riêng. Ngày nay, trong xây dựng đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới và trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã nhấn mạnh: Xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo xây dựng xã hội nông thôn giàu bản sắc văn hóa dân tộc, khi thảo luận ra Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã chỉ rõ phải bảo tồn, giữ gìn và phát triển các công trình văn hóa Phật giáo ở nông thôn. Xin nêu khái quát một số vấn đề mà tỉnh tập trung chỉ đạo như sau:

1. Tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương xây dựng nông thôn mới trong nhân dân nói chung và các phật tử nói riêng làm cho mọi người hiểu được mục tiêu, yêu cầu, nội dung và biện pháp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở đó làm tốt việc công khai quy hoạch chung của địa phương, quy hoạch các công trình Phật giáo như chùa, đình, đền của địa phương để mọi người đều được tham gia ý kiến, tổ chức tốt việc lập quy hoạch, kiểm tra giám sát việc thực hiện quy hoạch được lập. Làm tốt công tác tuyên truyền về việc bảo tồn, giữ gìn và phát triển các công trình kiến trúc văn hóa Phật giáo vì Thái Bình là vùng đất có truyền thống văn hiến, trải qua trên 1000 năm lịch sử, các thế hệ tiền nhân xưa đã để lại trên đất Thái Bình hàng ngàn di tích, các công trình văn hóa Phật giáo có giá trị đó là những chùa, đình, đền, những công trình kiến trúc đó là những yếu tố cấu thành đời sống văn hóa, tinh thần và tâm linh của cộng đồng làng xã. Việc xây dựng nông thôn mới với mục tiêu xây dựng xã hội nông thôn ổn định, phát triển bền vững, bộ mặt nông thôn ngày được đổi mới, đời sống nông dân được nâng lên đồng thời phải đi liền với việc bảo tồn giữ gìn các công trình kiến trúc văn hóa nói chung và văn hóa Phật giáo nói riêng là việc hết sức quan trọng và cần thiết trong quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

Cùng với việc tuyên truyền chủ trương xây dựng nông thôn mới của tỉnh, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh tích cực giáo dục tăng ni, phật tử nâng cao trình độ chuyên môn, chuyên sâu về kiến thức Phật pháp và văn hóa bằng việc giúp các tăng ni thi tuyển vào các trường đào tạo của Phật giáo Việt Nam, trung bình hàng năm có khoảng 300 tăng ni tham gia. Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã phối hợp với các sở, ban ngành của tỉnh tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, đường lối đổi mới phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, an ninh trật tự, phong trào thi đua xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, việc bảo tồn giữ gìn phát triển các công trình kiến trúc văn hóa Phật giáo của địa phương.

2. Thực hiện việc quy hoạch các công trình kiến trúc văn hóa Phật giáo. Đây là vấn đề hết sức quan trọng để bảo tồn giữ gìn và phát triển các công trình kiến trúc văn hóa Phật giáo của tỉnh, qua làm điểm ở 8 xã để rút kinh nghiệm, nhìn chung các công trình kiến trúc Phật giáo đều được đảm bảo giữ gìn quy hoạch mặt bằng, một số nơi được mở rộng. Tính đến nay các xã trong tỉnh đã cơ bản quy hoạch xong việc xây dựng nông thôn mới, các chùa, đình, đền đều được đảm bảo quy hoạch mặt bằng, các công trình kiến trúc Phật giáo được xây dựng ở nơi thoáng mát, yên tĩnh, có vườn, có ao, cây xanh không khí trong lành, có nơi thờ tự tế lễ, các hạng mục kiến trúc đều được bảo tồn gìn giữ. Một số nơi công trình mở rộng, một số nơi được khôi phục lại các công trình văn hóa Phật giáo bị phá bỏ trước đây do thiên tai hoặc chiến tranh tàn phá đều được công khai lấy ý kiến của nhân dân và các phật tử vì vậy đã bảo đảm ổn định ở nông thôn không để xảy ra thắc mắc, khiếu kiện. Thí dụ trên địa bàn thành phố Thái Bình có 6 công trình trong những năm qua được điều chỉnh mở rộng, đầu tư xây dựng vừa trùng tu vừa xây mới như chùa Tiền, chùa Hoàng Diệu, chùa Phúc Khánh, chùa Đoan Túc, chùa Bồ Xuyên, đền Hai Bà đó là chưa kể những công trình thuộc xã phường quản lý được đầu tư mở rộng.

Việc quy hoạch mặt bằng các công trình văn hóa Phật giáo có kết quả tốt là do có sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, có sự đóng góp tích cực và đồng thuận của nhân dân cũng như các phật tử, đồng thời có sự góp sức tích cực của các sở, ban ngành các cơ quan chuyên môn của tỉnh, huyện từ việc thiết kế, thẩm định và phê duyệt quy hoạch. Khi quy hoạch được phê duyệt là cơ sở quan trọng để thiết kế và thi công các hạng mục công trình. Kết quả của việc bảo tồn giữ gìn và phát triển các công trình văn hóa phật giáo ở Thái Bình trong thời gian qua là do làm tốt một số khâu quan trọng, đó là:

Lựa chọn được mặt bằng, khẳng định được sự cần thiết giữ nguyên hoặc mở rộng mặt bằng xây dựng; thiết kế quy hoạch mặt bằng hợp lý; thiết kế kiến trúc công trình phù hợp, nhất là ở những nơi được xây dựng mới và mở rộng mặt bằng; khâu thẩm định và phê duyệt quy hoạch mặt bằng và thiết kế kiến trúc được tiến hành nhanh chóng không phiền hà và kéo dài; tập trung huy động được các nguồn lực để đầu tư xây dựng.

3.Về đầu tư và xây dựng. Trong những năm qua và nhất là từ khi tỉnh đã phê duyệt đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới, các địa phương trong tỉnh đã tích cực xây dựng phương án đầu tư các công trình văn hóa Phật giáo. Điều quan trọng là đã phân loại các công trình và hạng mục công trình để đầu tư trong đó có công trình do trung ương hỗ trợ đầu tư, công trình do tỉnh, huyện, xã hỗ trợ, công trình do nhân dân địa phương đóng góp, xây dựng. Việc đầu tư nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới các công trình Phật giáo trong những năm qua có sự quan tâm chỉ đạo giúp đỡ của cấp ủy chính quyền các cấp, sự đóng góp của nhân dân, từ 2003 đến năm 2008, toàn tỉnh đã có 128 ngôi chùa được trùng tu nâng cấp với tổng kinh phí 89 tỷ đồng. Trong gần 3 năm qua, từ 2008 đến năm 2010 đã có gần 40 chùa được trùng tu nâng cấp với khoảng trên 60 tỷ đồng (đó là chưa kể các công trình do trung ương và tỉnh hỗ trợ đầu tư như chùa Keo, đền Trần…). Nhiều huyện có số lượng chùa được đầu tư xây dựng nhiều như Tiền Hải, Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng và thành phố Thái Bình. Những công trình tiêu biểu như chùa Hoàng Diệu, chùa Bồ Xuyên, chùa Tiền, đền Hai Bà của thành phố Thái Bình.

Trong đầu tư xây dựng các công trình Phật giáo, vấn đề hàng đầu được đặt ra là phải giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, lối kiến trúc độc đáo của kiến trúc cổ Phật giáo ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của quảng đại quần chúng nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân được hưởng thụ và có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn bảo vệ công trình kiến trúc Phật giáo.

4.Tuy nhiên, việc bảo tồn giữ gìn và phát triển các công trình kiến trúc văn hóa Phật giáo còn có một số vấn đề đặt ra đó là:

a)Sự quan tâm của các cấp, các ngành, các địa phương chưa đồng đều, việc tuyên truyền trong nhân dân về bảo tồn, giữ gìn, phát triển các công trình văn hóa Phật giáo còn ít, một số địa phương còn phó mặc cho Hội Phật giáo và các phật tử nên chuyển biến chậm.

b)Thiếu người và cán bộ tham mưu giúp cho việc quy hoạch và thiết kế kiến trúc xây dựng, một số nơi công trình còn chắp vá thiếu đồng bộ, tính thẩm mỹ kiến trúc cổ Phật giáo còn hạn chế.

c)Kinh phí xây dựng còn nhiều khó khăn, các công trình được xây dựng mới hoặc trùng tu nâng cấp chủ yếu dựa vào sự đóng góp của nhân dân hoặc một số nhà tài trợ, kinh phí hỗ trợ của Nhà nước còn hạn chế nên tiến độ xây dựng còn chậm, một số công trình trong tỉnh xuống cấp hoặc cần phải sửa chữa, thiếu kinh phí nên chưa được tu sửa kịp thời.

Khắc phục được những hạn chế nêu trên, với chủ trương quy hoạch xây dựng nông thôn mới của tỉnh đã được phê duyệt và triển khai thực hiện, có sự chỉ đạo tích cực của các cấp, các ngành trong tỉnh, hy vọng rằng các công trình kiến trúc văn hóa Phật giáo sẽ được bảo tồn và phát triển trong thời kỳ mới, thời kỳ từ nay đến năm 2020 tỉnh Thái Bình sẽ trở thành tỉnh nông thôn mới với các tiêu chí đề ra đó là một tỉnh có kinh tế xã hội phát triển giàu bản sắc văn hóa dân tộc các công trình kiến trúc văn hóa nói chung, công trình văn hóa Phật giáo nói riêng luôn được bảo tồn, giữ gìn và phát triển./.


Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.