Quốc Tử Giám dưới thời Nguyễn
Vào thời đó, điều kiện nhập học cũng tương đối rộng rãi, học sinh chỉ cần có một trong ba điều kiện sau là được vào học:
- Trúng tuyển trong một cuộc sát hạch cấp phủ, tổ chức ba năm một lần, một phủ chọn một người trong số Tú tài hoặc Sinh đồ trên 40 tuổi gọi là Cống sinh.
- Đã đậu Cử nhân và đang chuẩn bị thi Hội.
- Là thiếu niên ưu tú trong Hoàng tộc (được nhận với tư cách Tôn học sinh) hay con cháu các quan (được nhận với tư cách Ấm sinh).
Hệ thống tổ chức Quốc Tử Giám còn có chế độ ưu đãi cho thanh niên miền Thượng du như Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hưng Hóa... không cần xét độ tuổi và học lực, chỉ cần các địa phương xác nhận là xuất sắc và giới thiệu là được nhận vào học với danh hiệu học sinh. Sau ba năm dự bị, sẽ được sát hạch và nếu trúng tuyển sẽ được xếp vào hạng Cống sinh. Như vậy, giám sinh có thể chia làm hai thành phần:
- Một là giám sinh có văn bằng Cử nhân và các Cống sinh từ các phủ giới thiệu.
- Hai là thành phần dự bị gồm: Tôn học sinh (thuộc Nguyễn Phước Tộc cử sang), Ấm sinh (con cháu các quan lại) và các Học sinh (từ các tỉnh miền núi).
Tùy theo thành phần, giám sinh có quyền được ở nội trú, được miễn thuế đinh, được cấp áo mão, hưởng học bổng bằng tiền và hiện vật theo quy định hàng tháng. Chương trình học của trường chia theo các ngày chẵn, lẻ để dạy: Kinh truyệt, Sách, Sử, Tinh, Lý...
Năm 1904, cơn bão Giáp Thìn đã làm cho Quốc Tử Giám hỏng nặng, sau đó được tu bổ lại một vài lần. Đến năm 1908, Quốc Tử Giám được dời về khu vực phía đông Kinh thành Huế. Các công trình kiến trúc có một số thay đổi về quy mô, vật liệu xây dựng nhưng cơ cấu phòng ốc, tên gọi công trình thì hầu hết vẫn được giữ lại. Hiện nay, tại nhà Di Luân Đường vẫn còn hai bức hoành phi ghi tên của công trình này cùng niên đại xây dựng và cải tạo.








