Quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
Xã hội loài người luôn luôn mong muốn sử dụng tối đa tiềm năng của rừng để phục vụ cho mình, lại muốn việc sử dụng đó đạt tối đa và ổn định lâu dài. Khái niệm QLRBV chính là hiểu theo hai nghĩa đó. Theo Tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO): “QLRBV là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hay nhiều hơn những mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị truyền thống và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR thuộc Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam (VIFA) trong quá trình hoạt động của mình (1998 – 2005) đã tuyên truyền phổ cập khái niệm này cùng ý nghĩa, lợi ích của nó cho cán bộ quản lý cấp ngành, cấp tỉnh bằng phương tiện báo chí, truyền hình, truyền thanh và trên 10 hội thảo cấp quốc gia, vùng tỉnh. Đặc biệt các loại chủ rừng như lâm trường, BQL rừng, công ty, xí nghiệp lâm nghiệp cũng được khảo sát, đánh giá và phổ cập trong mạng lưới tuy còn mỏng nhưng rộng khắp cả nước. Điều quan trọng nhất cần giải thích là vì sao QLRBV đã trở thành cao trào, được hàng loạt các nước công nghiệp tiên tiến và hàng loạt các nước đang phát cần QLRBV, tự nguyện tham gia, mặc dù không ai bắt buộc? Đây là nhận thức của quốc gia về làm sao bảo vệ được rừng mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng, nhận thức của chủ rừng về quyền xuất khẩu vào mọi thị trường thế giới và quyền bán lâm sản với giá cao.
Vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người hiện tại được đánh giá và được thiết kế trong rất nhiều chương trình, hiệp ước, công ước quốc tế (CITES – 1973, RAMSA – 1998, UNCED – 1992, CBD – 1994, UNFCCC – 1994, UNCED – 1995). Đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, nhờ sáng kiến của những người sử dụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán kinh doanh gỗ từ các khu rừng được quản lý bền vững, từ đó một loại tổ chức QLRBV đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới, đã đề xuất tiêu chuẩn QLRBV với nhiều tiêu chí và nguyên tắc. Trong số này FSC là tổ chức duy nhất có phạm vi rộng toàn thế giới, đặc biệt FSC có đối tượng áp dụng cho cả rừng tự nhiên và rừng trồng, cả rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác.
Trong nửa thế kỷ từ 1945 đến 1990 tại Việt Nam, rừng liên tục giảm diện tích từ 14,3 xuống 9,2 triệu ha (mất 5,1 triệu ha), tốc độ mất rừng cao nhất là giai đoạn 1980 – 1990 (mất 1,5 triệu ha) mà lý do chính là quản lý rừng không bền vững. Từ năm 1993, nhờ nỗ lực to lớn của Nhà nước và nhân dân thông qua các chương trình lớn như 327, 661, trên 2 triệu ha rừng đã được phục hồi. Song đó mới chỉ là con số về số lượng, nếu quản lý rừng không bền vững thì việc mất rừng sẽ diễn ra song song với quá trình phục hồi rừng, và chất lượng rừng cũng như các chức năng phòng hộ môi trường, xoá đói giảm nghèo cũng không thể phát huy được. Chính vì vậy, quá trình QLRBV đang là một phong trào rộng lớn quy mô toàn cầu và là chủ đề chính trong hợp tác lâm nghiệp ASEAN.
Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 – 2020 đang được trình Chính phủ phê duyệt, trong 3 chương trình phát triển của chiến lược này thì chương trình “Quản lý và phát triển rừng bền vững” là chương trình thứ nhất. Để QLRBV trước hết cần tạo ra các điều kiện cần và đủ về rừng, về pháp luật và về xã hội, thị trường, trước hết cần xác định được một lâm phần ổn định không chỉ trên quy hoạch, trên bản đồ, mà phải cả trên thực địa của cả nước và trong khu rừng. Mục tiêu chính của QLRBV là nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả quản lý của chủ rừng đối với trong khu rừng cụ thể, sử dụng tối đa các lợi ích kinh tế, lợi ích môi trường và lợi ích xã hội của rừng nhưng ổn định và bền vững lâu dài.
Sau Malaisia, Indonesia, Philippin, Thailan, tháng 12 năm 2005, Lào nhận được chứng chỉ rừng bền vững đầu tiên. Tháng 4 năm 2006, Việt Nam nhận chứng chỉ QLRBV của FSC đầu tiên cho 9.909 ha của đơn vị trồng rừng liên doanh QPFL tại Quy Nhơn. Tổ chức được FSC uỷ quyền cấp chứng chỉ là SGS Qualifor, đã tham khảo kỹ nguyên tắc 10 về rừng trồng trong dự thảo lần 8 của Việt Nam gồm 9 tiêu chí của FSC đã được cụ thể hoá thành 26 chỉ số phù hợp với điều kiện và pháp luật Việt Nam.
Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng chỉ có ý nghĩa nếu 9 triệu ha rừng hiện có được quản lý bảo vệ tốt. Vì vậy, ngay từ tháng 2 năm 1998 một hội thảo quốc gia về xây dựng chương trình QLRBV và thành lập tổ công tác quốc gia về CCR đã được Bộ NN&PTNT, tổ chức FSC quốc tế, tổ chức WWF Đông Dương và Đại sứ quán Hà Lan đồng tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh. Bảy năm qua, Tổ công tác quốc gia (NWG) đã dự thảo được Bộ tiêu chuẩn quốc gia và phát động một phong trào QLRBV, thúc đẩy nhận thức và hành động cải thiện năng lực quản lý rừng cho mọi loại chủ rừng. Nay NWG phối hợp với Trung tâm môi trường và lâm sinh nhiệt đới, nâng cấp về tổ chức, pháp nhân, năng lực hoạt động thành Viện QLRBV và CCR, nhằm tiếp tục đẩy mạnh tiến trình QLRBV ở Việt Nam với nhiều nhiệm vụ về trước mắt cũng như về lâu dài.
Nguồn: T/c Rừng & Đời sống, số 1, 9 – 2006, tr.5








