Phụ nữ có thai dùng thuốc gì trị bệnh tăng huyết áp
- Đã bị THA kinh niên: tức là trước khi có thai, PNCT đã có bệnh THA. Nên lưu ý, nếu bị THA kinh niên không kiểm soát tốt, có thể có đến 20 – 25% PNCT bị tiền sản giật là rối loạn nghiêm trọng thuộc loại cấp cứu sản khoa.
- Bị THA do thai nghén: một số trường hợp còn được gọi là bị THA thoáng qua, bởi vì rối loạn này có thể không đưa đến tiền sản giật và huyết áp trở lại bình thường sau khi sinh.
Ngoài hai trường hợp trên, trường hợp bị THA khi mang thai có thể là triệu chứng của rối loạn nghiêm trọng gọi là tiền sản giật - sản giật. Khi được xác định bị tiền sản giật với các triệu chứng như tăng huyết áp, phù mặt và tay chân, đi tiểu ra đạm..., PNCT cần được cấp cứu chữa trị.
Về độ an toàn của thuốc dùng cho PHNCT, ở Mỹ có đưa ra hệ thống phân loại có 5 mức A, B, C, D và X. A là thuốc thuộc loại an toàn cho PNCT, nếu thuốc được ghi loại A có nghĩa dùng được cho PNCT (thí dụ như axit folic hoặc vitamin B6). X là thuốc có hại, tuyệt đối không dùng (tức chống chỉ định) cho PNCT(thí dụ như thuốc trị ung thư). Giữa A và X có 3 loại B, C, D là các thuốc có thể chỉ định cho PNCT trong trường hợp cần thiết và phải cân nhắc giữa lợi ích điều trị và nguy cơ gây hại. Thuốc loại B an toàn hơn C, D; nghĩa là thuốc loại C bắt buộc dùng phải cân nhắc kỹ hơn thuốc loại B và nếu là thuốc loại D thì tốt nhất là không nên dùng (bởi vì kế cận với mức X).
Đối với PNCT, thuốc trị THA từ lâu thường được dùng là methyldopa. Theo hệ thống phân loại 5 mức kể trên, methyldopa thuộc loại B. Nghĩa là, methyldopa thuộc loại tương đối an toàn cho PNCT, dùng thuốc loại này đương nhiên cũng có sự cân nhắc của nhà điều trị nhưng không phải đòi hỏi mức độ cảnh giác như thuộc loại C, D.
Ngoài methyldopa có thuốc trị THA nào khác có thể dùng thay thế?Đây là câu hỏi thường đặt ra vì hiện nay có nhiều nhóm thuốc mới như thuốc chẹn bêta, thuốc chẹn kênh canxi, thuốc ức chế men chuyển, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin IIvà các nhà điều trị thường chọn lựa dùng thuốc thuộc các nhóm thuốc mới này.
Theo nhiều tài liệu, nhóm thuốc trị THA không được dùng cho PNCT là nhóm ức chế men chuyển (ACEI) và nhóm đối kháng thụ thể angiotensin II (ARB).Khi PNCT bị THA kinh niên nếu đang dùng nhóm ACEI (như captopril, elanapril, lisinopril...) bắt buộc phải ngưng thuốc. Bởi vì thuốc ACEI dùng khi mang thai sẽ gây loạn phát triển thận ở thai nhi, đặc biệt gây chết thai ở giữa hoặc cuối thai kỳ. Thuốc nhóm ARB (như losartan, valsartan, irbesartan...) cũng chống chỉ định với PNCT vì có cùng cơ chế tác dụng gần giống như nhóm ACEI. Cả 2 nhóm thuốc vừa kể thuộc loại D trong hệ thống phân loại độ an toàn với PNCT.
Các thuốc sau đây có thể dùng cho PNCT thay thế trong trường hợp không dùng được methyldopa và nhà điều trị phải cân nhắc kỹ giữa lợi ích điều trị và nguy cơ gây hại, bởi vì các thuốc thay thế đều loại C:
- Nhóm giãn mạch: hydralazin(tùy theo tài liệu, được phân loại B hoặc loại C).
- Nhóm chẹn bêta: latetalol, metoprolol, pindolol(ba thuốc vừa kể được phân loại C, chú ý có thuốc trong nhóm là atenolol có tài liệu phân loại D tức không an toàn cho thai, tốt nhất không dùng).
- Nhóm chẹn kênh canxi: nifedipin(được phân loại C, nhà sản xuất Ađalat - biệt dược của nifedipin có ghi “chống chỉ định với PNCT” nhưng khi thật cần thiết bác sĩ vẫn có thể cho dùng).
Khi PNCT bị tiền sản giật, một thuốc được dùng chống co giật được phân loại A (an toàn cho PNCT) là magnesium sulfate(tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch).
Tóm lại, dùng thuốc cho PNCT phải hết sức thận trọng, PNCT không được tự ý dùng thuốc, nên dùng thuốc theo sự chỉ định của bác sĩ. Bác sĩ sẽ cân nhắc thật kỹ trong lựa chọn thuốc và chỉ định thuốc dựa trên y học có chứng cứ(evidence - based medicine) tức là đã được chứng minh an toàn hoặc vì lợi ích điều trị cao hơn nguy cơ có hại đối với PNCT.








