Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 10/04/2008 16:28 (GMT+7)

Phòng ngừa ô nhiễm và phục hồi môi trường

1. Giới thiệu chung

Công ty THHH NN một thành viên Kim loại màu Thái Nguyên là đơn vị thành viên của Tổng Công ty Khoáng sản - TKV. Trong quá trình tồn tại và phát triển Công ty không ngừng đầu tư thiết bị, dây chuyền sản xuất, nhà máy mới với các sản phẩm chế biến sâu nhằm đa dạng hoá sản phẩm. Sản phẩm chính của Công ty: thiếc thỏi 99,99%; kẽm thỏi 99,98%; tinh quặng vonfram 65%; tinh quặng chì 50%; bột oxit kẽm (80 - 90%) ZnO và các sản phẩm cơ khí.

Trong thời gian qua, Công ty không ngừng quan tâm, đổi mới trang thiết bị, trang bị đầy đủ phương tiện BHLĐ cá nhân và kết hợp với sự ứng dụng khoa học kỹ thuật mới áp dụng vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc và giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường. Hàng năm Công ty tiến hành khám sức khoẻ định kỳ và tổ chức bố trí cho từ 800 đến 900 lượt CBCNV Công ty đi nghỉ mát, an dưỡng và điều trị bệnh nghề tại Trung tâm điều dưỡng và điều trị bệnh nghề của Công ty.

2. Đặc điểm môi trường trong khai tuyển quặng

Căn cứ vào điều kiện khai tuyển tại Công ty thấy các nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến môi trường làm việc và môi trường xung quanh là:

a) Khi khoan nổ mìn: phát sinh ra bụi, khói, khí độc (CO, NO 2, SO 2, H 2S). Trong quá trình khoan đá phát sinh nhiều bụi có chứa silic tự do và bụi kim loại có khả năng gây ra các bệnh đường hô hấp hoặc bụi phổi.

b) Tiếng ổn: chủ yếu phát sinh từ các máy đập, máy nghiền, máy khoan, các thiết bị động lực. Tiếng ồn cao sẽ làm ảnh hưởng năng suất lao động, trao đổi thông tin, giảm sự tập trung, che lấp các tín hiệu âm thanh.

c) Bụi: phát sinh trong khâu xúc bốc, vận chuyển quặng, công đoạn sàng đập và gia công quặng.

d) Nghèo hoá đất đai và xáo trộn môi trường đất: Quá trình khai tuyển quặng kim loại màu hàng năm sử dụng diện tích đất khá lớn phục vụ cho khai thác, cho các bãi thải rắn và các bãi thải bùn cát. Đặc điệt đối với các khu vực khai tuyển quặng sa khoáng do khoáng sản thường nằm dưới đất nông nghiệp, chiều dày các thân quặng thường thấp nên diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp sử dụng cho mục đích này hàng năm là rất lớn. Các khu vực khai thác xong, các bãi thải rắn nếu không có biện pháp cải tạo sẽ gây ô nhiễm môi trường và khó sử dụng vào các mục đích khác.

e) Ô nhiễm nguồn nước: trong khai tuyển có ba nguồn nước thải chính:

- Nước thải khai thác hầm lò: các khu vực khai thác hầm lò thuộc Công ty Kim loại màu Thái Nguyên quản lý chủ yếu nằm trên các sườn đồi dốc, quy mô khai thác mỏ, lượng nước thoát ra trong quá trình khai thác không nhiều nên nguy cơ gây ô nhiễm môi trường xung quanh là không lớn.

- Nước thải trong khai thác lộ thiên: phần lớn các khu vực khai thác lộ thiên có quy mô khai thác lớn của công ty đều kết hợp với tuyển trọng lực vì vậy nước thải ở các khu vực này thường sử dụng cho tuyển khoáng hoặc kết hợp với xử lý cùng với nước thải tuyển khoáng. Các khu vực khai thác lộ thiên không kết hợp với tuyển khoáng thường có quy mô nhỏ, lượng nước thải ra không nhiều.

- Nước thải trong tuyển khoáng: phân ra làm hai dạng.

- Nước thải tuyển trọng lực: mặc dù có khối lượng lớn nhưng thành phần chủ yếu là nước và bùn, cát mà không chứa các hoá chất độc hại nên để lắng trong trước khi thải ra môi trường cần quy hoạch các bãi thải rộng để lắng các chất thải rắn như đất đá và bùn. Ngoài việc chiếm dụng diện tích đất lớn, nguồn thải này tiềm ẩn những nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường đặc biệt là nguy cơ vỡ các đập chứa.

- Nước thải tuyển có sử dụng hoá chất: nước thải này phát sinh trong quá trình tuyển nổi các loại quặng có chứa các khoáng vật sunfua. Do đó, ngoài việc phải xử lí lắng trong bùn quặng còn phải xử lý các hoá chất, các kim loại nặng và ngăn ngừa các sự cố môi trường do ảnh hưởng tiêu cực của các chất thải này gây ra.

3. Các giải pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường

3.1 Các giải pháp chung

a) Căn cứ vào Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cam kết bảo vệ môi trường. Công ty tiến hành hoàn thiện lập bổ sung ĐTM các khu vực khai tuyển do Báo cáo trước đã lập nhưng còn thiếu phê duyệt của các cấp có thẩm quyền để làm căn cứ thi hành.

b) Tiến hành ký quỹ phục hồi môi trường, đăng ký sử dụng nguồn nước, đăng ký nguồn nước thải ra môi trường ở tất cả các mỏ được giao quản lý.

c) Duy trì việc quan trắc môi trường theo đúng các cam kết đã đề ra trong Báo cáo ĐTM. Khi có kết quả quan trắc nếu các chỉ tiêu nào đạt thì tiếp tục duy trì. Đối với các chỉ tiêu không đảm bảo tiến hành lập các biện pháp khắc phục nhằm đạt đến tiêu chuẩn cho phép.

d) Tăng cường công tác tuyên truyền trong toàn Công ty nhận thức được khắc phục ô nhiễm môi trường là có lợi cho cá nhân và cho cả cộng đồng; đề ra các hình thức xử lý nếu các cá nhân và tập thể vi phạm gây ô nhiễm và phá hoại môi trường làm việc.

e) Đầu tư làm đường vận chuyển, các thiết bị, trang bị bảo hộ cá nhân nhằm giảm tiếng ồn, bụi (khoan khai thác, đập nghiền quặng, vận chuyển quặng, thông gió...), tránh tiếp xúc với hoá chất và tạo môi trường hài hoà với người lao động.

3.2 Các giải pháp cụ thể

- Đẩy mạnh công tác hoàn thổ. Trong những năm qua Công ty đã tích cực tiến hành hoàn thổ các khu vực đã khai thác xong, các bãi thải đá, bùn cát chưa được hoàn thổ. Căn cứ theo đặc điểm từng khu vực cần hoàn thổ, Công ty đã thoả thuận với chính quyền và nhân dân sở tại xác định mục đích sử dụng đất sau khi hoàn thổ để vừa thuận lợi cho công tác hoàn thổ, vừa đảm bảo sau hoàn thổ và chuyển đổi mục đích sử dụng đất có thể sử dụng được ngay. Nhờ sự hợp tác chặt chẽ với chính quyền và nhân dân địa phương nên Công ty đã tiến hành hoàn thổ được hàng chục ha đất (năm 2005: 4 ha, năm 2006: 13,2 ha và năm 2007 dự kiến: 16,5 ha). Hầu hết diện tích hoàn thổ đã được sử dụng để trồng cây công nghiệp và nông nghiệp như mía, cỏ chăn nuôi, lúa...

- Trồng cây sắn dây rừng và các cây bản địa để tạo thảm thực vật bảo vệ môi trường đất đá trên sườn dốc và bãi thải, moong khai thác nhằm hoàn thổ phục hồi môi trường mỏ sau khai thác (phối hợp thực hiện với Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về khoáng sản). Đối với các bãi thải đá tiến hành san gạt đất đá thải, lấp moong khai thác sau đó tiến hành trồng cây sắn dây rừng và các cây bản địa. Mục đích để tạo thảm thực vật giữ độ ẩm, tăng độ phì nhiêu, chống xói mòn đất trước khi trả lại cho địa phương tiến hành trồng các loại cây công nghiệp hay trồng rừng. Giải pháp này đang áp dụng thử nghiệm trên diện tích đất hoàn thổ 20.000 m 2. Nếu có kết quả sẽ triển khai rộng rãi.

- Sử dụng vật liệu chống thay thế gỗ chống lò. Để từng bước thay thế việc chống lò bằng gỗ, từ cuối năm 2005 Công ty đã và đang triển khai thử nghiệm sử dụng đá thải ra trong các buồng khai thác để xếp vào xây trụ bảo vệ khi khai thác các khối quặng oxit và sunfua kẽm chì tại mỏ Kẽm – chì Chợ Điền. Kết quả bước đầu cho thấy với một số khu vực nhất định các trụ bảo vệ bằng đá này có ưu thế hơn hẳn so với cũi lớn bằng gỗ: Tuổi thọ cao, chi phí thấp hơn so với cũi trụ gỗ và điều quan trọng là thay thế được phần gốc chống lò trong khai thác kẽm chì.

- Sử dụng chất trợ lắng và sử dụng nước lưu hồi thải tuyển phục vụ sản xuất. Nhằm giảm thiểu chất cặn bã, chất lơ lửng, bùn trong nước thải tuyển khi đưa vào bãi chứa. Công ty đã tiến hành sử dụng hoá chất trợ lắng giúp cho quá trình lắng đọng thải nhanh hơn đảm bảo nước thải ra môi trường trong và đảm bảo tiêu chuẩn cho phép. Ngoài ra, để giảm thiểu lượng nước thải ra môi trường và tiết kiệm chi phí cho sản xuất hiện nay hầu hết các khu vực tuyển khoáng Công ty đều sử dụng nước lưu hồi (đã lắng trong bơm ngược trở lại trung hoà với nước sạch). Kết quả đã giảm được lượng nước thải thoát ra môi trường và đáp ứng được nguồn nước bổ sung phục vụ tuyển.

- Giảm thiểu ô nhiễm bụi:

+ Trong công tác khoan nổ mìn (khai thác, đào bò chuẩn bị...): yêu cầu bắt buộc phải khoan nước, những nơi không có điều kiện cung cấp nước thuận lợi; cần tiến hành xây bể hoặc téc chứa nước và dùng ô tô vận chuyển nước đổ vào bể hoặc téc để tiến hành khoan.

+ Đường vận chuyển và các khu vực khác: Tiến hành bê tông hoá hoặc rải nhựa đường vận chuyển chính và hàng ngày dùng ô tô phun nước làm ẩm đường đi qua những khu đông dân cư. Các khu vực máy đập, máy nghiền, cấp thuốc... tiến hành trang bị đầy đủ bảo hộ cá nhân phù hợp với điều kiện làm việc đặc thù, cải tạo nơi làm việc thoáng mát, trang bị hệ thống hút bụi hoặc lắp đặt các hệ thống phụ hơi nước.

- Thay các hoá chất tuyển bằng các hoá chất ít độc hại với môi trường. Trước đây việc tuyển nổi kẽm chì ở Công ty phải sử dụng các loại hoá chất (thuốc tuyển) truyền thống như: xantat, dầu thông; sunfua kẽm; sunfua đồng; xianua; vôi... trong đó, xianua là cực kỳ độc hại.

Với yêu cầu giảm bớt sự độc hại khi sử dụng, tiếp xúc với xianua và thải ra môi trường, một nhóm kỹ sư tuyển khoáng và công nhân kỹ thuật đã tiến hành nghiên cứu và áp dụng thành công công nghệ tuyển nổi quặng sunfua kẽm chì xianua. Việc thay đổi chế độ thuốc tuyển mới không những loại bỏ hoàn toàn được xianua trong quá trình tuyển mà còn giúp tăng thực thu kim loại, nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm tiêu hao hoá chất tuyển. Hiện tại công nghệ tuyển nổi quặng sunfua kẽm chì trong toàn Công ty không sử dụng thuốc xianua từ năm 2003 đến nay.

So sánh một số chỉ tiêu tại xưởng tuyển nổi kẽm chì Chợ Điền trước và sau khi áp dụng đề tài thay đổi chế độ thuốc tuyển được thể hiện trong bảng 1.

Trên đây là giải pháp thực hiện giảm thiểu ô nhiễm và phục hồi môi trường, tạo ra môi trường lao động thân thiện môi trường của Công ty. Trong thời gian tới Công ty tiếp tục tăng cường công tác đầu tư trang thiết bị và phối hợp với các trung tâm tư vấn, viện nghiên cứu áp dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến áp dụng trong khai thác và chế biến với mục tiêu nâng cao thực thu, giảm chi phí và giảm thiểu ô nhiễm hoặc tác động đến môi trường xung quanh.

Nguồn: Công nghiệp mỏ, 1 - 2008, tr 34

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.