Phát triển thị trường Khoa học và Công nghệ ở nước ta hiện nay
1. Thị trường khoa học và công nghệ (KHCN) được hiểu là tổng hòa các mối quan hệ mua bán, trao đổi, môi giới, giám định, khiếu kiện giữa các bên giao dịch. Nói cách khác, thị trường KHCN là phương thức thương mại hóa các thành quả KHCN, thúc đẩy gắn kết KHCN với sản xuất.
Những năm qua, nhất là trong giai đoạn 2005-2010, hoạt động KHCN nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần đáng kể vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và mục tiêu tăng cường năng lực của ngành KHCN nói riêng.
Tuy nhiên, trên thực tế, thị trường KHCN ở nước ta mới ở dạng sơ khai, chưa xuất hiện trên thị trường KHCN hiểu theo đúng nghĩa đầy đủ, tức là thị trường KHCN hoạt động trên cơ sở pháp lý, được quản lý bằng pháp luật; có hệ thống quản lý và triển khai các hoạt động nghiệp vụ, có hệ thống cơ quan trung gian môi giới dịch vụ được ra đời và hoạt động theo pháp quy thống nhất… Tất nhiên, đối với một đất nuwowcs chưa có nền công nghiệp hiện đại như Việt Nam thì điều này là hoàn toàn dễ hiểu. Vấn đề đặt ra là trong tương lai (từ nay đến năm 2020) – khi nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, liệu sự xuất hiện và hoạt động của thị trường này có khả thi không? Theo nghiên cứu của các chuyên gia, để hình thành và phát triển được thị trường KHCN, không thể thiếu hai yếu tố, đó là môi trường pháp lý cho thị trường KHCN và hệ thống tổ chứvc. Có thể coi đây là hai vấn đề mang tính chất mấu chốt, giữ vai trò tiên quyết. Qua thực tiễn tại Việt Nam , hai yếu tố trên đã xuất hiện, trên cơ sở đó, chúng ta có thể tin tưởng trong quá trình CNH,HĐH đất nước, thị trường KHCN sẽ đóng vai trò quan trọng.
Trước hết,xét đến môi trường pháp lý cho KHCN: nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển thị trường KHCN, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, nhiều cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã nêu rõ định hướng cho việc phát triển thị trường KHCN và coi đây là một trong tám giải pháp cơ bản để thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển KHCN nhà nước, tạo môi trường để KHCN gắn với sản xuất, kinh doanh, với phát triển kinh tế. Quyết định số 175/CP ngày 29-4-1981 của Chính phủ cho phép ký hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệpngày 11-02-1989 và Pháp lệnh chuyển giao công nghệngày 10-2-1989 cho phép tất cả các thể nhân, pháp nhân đều được phép ký kết các hợp đồng chuyển giao khoa học công nghệ với đối tác nhà nước. Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01-7-1998 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ. Luật khoa học và công nghệquy định quyền sở hữu, quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đồng thời chỉ rõ: Nhà nước có các chính sách và biện pháp khuyến khích mọi hoạt động chuyển nhượng, chuyển giao công nghệ theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi; hoàn thiện chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ; áp dụng các chính sách ưu đãi đối với sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm bằng công nghệ mới; sản phẩm được làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam; hoạt động tư vấn KHCN; thiết bị công nghệ cao nhập khẩu, xuất khẩu công nghệ, áp dụng chế độ thưởng cho tập thể lao động và cá nhân có sáng kiến, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và ứng dụng công nghệ mới được chuyển giao; các tổ chức KHCN được thành lập tổ chức dịch vụ KHCN, doanh nghiệp trực thuộc; được hợp tác; liên doanh với tổ chức, cá nhân để tiến hành hoạt động chuyển giao công nghệ.
Nghị định Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: phát triển thị trường KHCN trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn sản phẩm KHCN (trừ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển) trở thành hàng hóa. Thông tin rộng rãi và tạo môi trường cạnh tranh để các sản phẩm KHCN được mua bán thuận lợi trên thị trường. Chuyển các tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc nhiều loại hình sở hữu sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp.
Như vậy, những văn bản pháp quy trên không chỉ tạo ra một hành lang pháp lý tương đối ổn định để các tổ chức, cá nhân có thể hoạt động được bình đẳng, lành mạnh trong thị trường KHCN mà còn thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ trong việc phát triển thị trường này. Qua thực tiễn, hệ thống văn bản trên đã đi vào cuộc sống và bắt đầu đặt những nền móng đầu tiên cho việc phát triển thị trường KHCN. Ở góc độ pháp lý, chúng ta đã có một môi trường khá thuận lợi cho sự phát triển thị trường KHCN. Có thể coi đây là bước khởi đầu đầy triển vọng, mang tính thiết thực trong điều kiện cụ thể của Việt Nam .
Thứ hai, về mặt tổ chức: hiện nay, ở nước ta chưa hình thành hệ thống tổ chức thị trường KHCN hoạt động theo mô hình quản lý, có trật tự trên cơ sở pháp luật (điều này là dễ hiểu vì thị trường KHCN của ta chưa hình thành phát triển mà chỉ là các tổ chức hoạt động liên quan đến môi giới, chuyển giao công nghệ)… Tuy nhiên, đây chính là những bước đi đầu tiên mang tính thương mại hóa các thành quả KHCN và quan trọng là đã có sự gắn kết giữa KHCN với sản xuất. Chúng ta đã liên tục có các hội chợ triển lãm những thành quả của KHCN. Điều này rất quan trọng, vì qua hội chợ, các tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội có dịp để trưng bày, giới thiệu những sản phẩm của mình, từ đó thúc đẩy việc giao dịch, mua bán. Thời gian qua, Việt Nam đã thực hiện không ít các biện pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thị trường công nghệ qua kết nối cung – cầu. Ở đây kết nối cung – cầu chính là một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ. Hoạt động kết nối cung – cầu công nghệ đang từng bước được triển khai với các hình thức ngày càng đa dạng và hiệu quả như chợ thiết bị và công nghệ (techmart), techmart ảo (qua mạng inter-net), kết nối các doanh nghiệp trong và ngoài nước… Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức và chỉ đạo tổ chức hàng loạt các hoạt động kết nối cung- cầu qua các kỳ techmart: tại Hà Nội (năm 2003), TP. Hồ Chí Minh (năm 2005), techmart Việt nam ASEAN+3 (năm 2009), techmart vùng đồng bằng sông Hồng (tháng 8-2010), techmart thủ đô (tháng 9-2010). Cùng với đó techmart ảo và các sàn giao dịch điện tử tại các tỉnh cũng được đưa và hoạt động, thu hút sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư công nghệ trong và ngoài nước như Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga…Giá trị kinh tế từ các hoạt động này ngày càng gia tăng. Techmart ASEAN +3 đã có gần 2.000 hợp đồng, biên bản ghi nhớ ký kết với tổng giá trị 1.178 tỉ đồng; techmart vùng đồng bằng sông Hồng năm 2010 có gần 200 hợp đồng, biên bản ghi nhớ kí kết, tổng giá trị 457 tỉ đồng; techmart Thủ đô năm 2010 có 150 hợp đồng, bản ghi nhớ ký kết, tổng trị giá lên đến 410 tỉ đồng. Còn techmart ảo cũng thu hút tới 10.000 lượt người truy cập…
Mới đây, nhằm thúc đẩy giao dịch công nghệ, kết nối cung – cầu công nghệ trong và ngoài nước, Việt nam đã tham gia và chính thức có tên trong Hệ thống trao đổi Công nghệ và tài sản toàn cầu Nam – Nam (SS - Gate). Đây là cơ hội tốt để các nhà khoa học và doanh nghiệp của Việt Nam có thể tiếp cận với các cơ quan tư vấn công nghệ quốc tế và đặc biệt, có thể trao đổi các nhu cầu chào bán và tìm mua tại các nước trong khu vực. SS – Gate là hệ thống giao dịch công nghệ trực tuyến, cho phép các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển có thể hợp tác và trao đổi công nghệ, tài sản trí tuệ và nguồn lực tài chính trong một môi trường an toàn, minh bạch. Thông qua SS – Gate, doanh nghiệp và người sử dụng được cung cấp dịch vụ công nghệ, thông tin về giá cả thị trường, giao dịch và đào tạo trong lĩnh vực liên quan. Tính đến nay SS- Gate đã xây dựng được một mạng lưới toàn cầu về tài sản và chuyển giao công nghệ với 25 trạm ở 23 quốc gia và 2 trạm được thiết lập ở các nước phát triển là Hoa kỳ, Áo. SS-Gate đang trở thành sàn giao dịch lớn, sở hữu đa dạng các nguồn lực hướng đến các nước đang phát triển.
Tháng 6-2010, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chính thức kí văn bản hợp tác ba bên giữa Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam – đại diện Chính Phủ Việt Nam; đại diện của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và đại diện lãnh đạo SS – Gate đã chính thức thiết lập và hoạt động ở Việt Nam. Cục Thông tin KHCN Quốc gia (NASATI) sẽ làm đầu mối của SS – Gate tại Việt Nam .
Bên cạnh đó, về vấn đề sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp của ta cũng ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu trong xu thế hội nhập kinh tế. Có không ít doanh nghiệp của Việt Nam đã bỏ hàng triệu đô la tham gia tranh kiện để đòi lại quyền sở hữu trí tuệ của mình…
Mặt khác, chúng ta cũng đang mạnh mẽ đổi mới công tác quản lý và tổ chức hoạt động KHCN. Hội nghị Trung ương 6 khóa IX đã nêu vấn đề đổi mới quản lý và tổ chức hoạt động KHCN gắn với đổi mới quản lý và tổ chức hoạt động kinh tế, đảm bảo sự gắn kết lợi ích của người sáng tạo và lợi ích của các thành phần kinh tế - xã hội. Hiện nay, chúng ta cũng đang thực hiện việc chuyển các tổ chức KHCN thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang chế độ tự trang trải kinh phí và được hoạt động theo cơ chế của doanh nghiệp. Đây là một giải pháp có tính đột phá, tạo ra môi trường hoạt động KHCN năng động, gắn với nhu cầu phát triển của sản xuất – kinh doanh.
2. Để tiếp tục phát triển nhanh chóng thị trường KHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng, thời gian tới, chúng ta cần tập trung thực hiện nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là,thành lập cơ quan quản lý và xúc tiến thị trường KHCN. Ở trung ương là Trung tâm quản lý và xúc tiến thị trường KHCN; ở tỉnh, thành phố là văn phòng quản lý và xúc tiến thị trường KHCN, tổ chức mạng lưới các thị trường KHCN liên kết chặt chẽ với nhau. Bố trí địa điểm cố định và các phiên giao dịch định kỳ cho KHCN; định kỳ tổ chức các hội chợ triển lãm thành quả KHCN; xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên về công tác thị trường KHCN .
Hai là, đổi mới quản lý và tổ chức hoạt động KHCN gắn với quản lý và tổ chức hoạt động kinh tế; bảo đảm sự gắn kết lợi ích của người sáng tạo và lợi ích của các thành phần kinh tế - xã hội. Soát xét lại các cơ chế, chính sách quản lý kinh tế theo hướng sớm thu hẹp bao cấp, giảm độc quyền, giảm chi phí sản xuất, bảo hộ mậu dịch nhằm thúc đẩy cạnh tranh và hội nhập kinh tế, phát triển thị trường KHCN, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa.
Ba là, đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KHCN. Dự toán chi ngân sách hàng năm hiện được chính phủ giao cho các ban chủ nhiệm chương trình, nhưng thực tế ban chủ nhiệm không được quyền quyết định dự toán và phân bổ kinh phí cho các đề tài mà phụ thuộc vào cơ quan quản lý nhà nước. Do vậy, việc phân bổ dự toán chi ngân sách hàng năm thường bị chậm. Việc thanh toán, quyết toán đề tài, dự án vẫn chưa được “thoáng”, vẫn đòi hỏi đầy đủ chứng từ, khiến nhiều nhà khoa học “nản”. Đặc biệt, cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KHCN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa học. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KHCN. Chuyển các tổ chức KHCN thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang chế độ tự trang trải kinh phí và được hoạt động theo cơ chế của doanh nghiệp, tạo ra một môi trường hoạt động KHCN năng động, gắn với nhu cầu phát triển của sản xuất – kinh doanh, gắn hoạt động KHCN với lợi ích của sản xuất và lợi ích của các tổ chức KHCN, của các nhà khoa học.
Bốn là, nhanh chóng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thị trường KHCN, ví dụ như về hợp đồng công nghệ, khuyến khích chuyển giao thành quả KHCN, điều lệ quản lý thị trường KHCN. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác và phát huy tác dụng của các sáng chế và các giải pháp hữu ích nhằm đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa Việt Nam . Pháp luật hóa quyền sử dụng, chuyển giao thành quả KHCN, quyền chuyển giao của bằng độc quyền, chuyển giao quyền nộp đơn xin cấp bằng độc quyền, hợp đồng chuyển giao bí quyết, hợp đồng cho phép khai thác bằng độc quyền…
Các hoạt động chuyển giao thành tựu KHCN phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, công bằng, trung trực theo các thỏa thuận trong hợp đồng, tuân thủ pháp luật, bảo vệ lợi ích quốc gia, không được làm phương hại đến lợi ích cộng đồng và xã hội. Quyền sở hữu trí tuệ trong chuyển giao các thành tựu KHCN được pháp luật bảo hộ.
Năm là, hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ. Có chế tài để xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ; bảo hộ, khuyến khích việc sử dụng những giải pháp, sáng chế mới. Tăng cường năng lực quản lý nhà nước và công tác thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Rà soát lại các cơ chế, chính sách quản lý kinh tế để thúc đẩy phát triển thị trường KHCN, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cá nhân tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, giảm đến mức tối đa sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch trong kinh doanh.
Sáu là, ban hành chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất – kinh doanh. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KHCN, bước đầu đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm. Cần phấn đấu tiến đến thực hiện nguyên tắc chung là Nhà nước chỉ tài trợ cho những sản phẩm và dịch vụ mà Nhà nước đặt hàng. Chuyển dần trách nhiệm đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển công nghệ cho các doanh nghiệp đảm nhận, Nhà nước hỗ trợ bằng cơ chế, chính sách, đồng thời, tạo cơ chế để doanh nghiệp chủ động tìm các nguồn khác nhau đầu tư vào lĩnh vực này.
Bảy là, thí điểm mô hình dạy nghề có sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước và từ doanh nghiệp. Trong quá trình phát triển thị trường KHCN, doanh nghiệp là một trong những nhân tố cơ bản và quan trọng nhất quyết định hướng phát triển của công nghệ. Có sự tập trung nỗ lực của các cấp, các ngành chia sẻ và tháo gỡ để doanh nghiệp thực sự có môi trường kinh doanh tốt; có sự phối hợp năng động và hiệu quả với các tổ chức KHCN (nghiên cứu, đào tạo) để giải quyết những vấn đề về công nghệ đang đặt ra cho doanh nghiệp.








