Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 10/09/2008 00:43 (GMT+7)

Phát triển sản xuất vật liệu xây dựng không nung thay thế gạch đất sét nung

1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh sản xuất gạch không nung thay thế gạch đất sét nung

Gạch xây là loại vật liệu được sử dụng rộng rãi trong mọi công trình xây dựng và đã được phát triển sản xuất khắp đất nước ta. Gạch xây đã phát triển nhanh chóng từ các lò gạch đứng, lao động hoàn toàn thủ công, sản xuất gạch đặc biệt tiêu tốn than 200 kg/1000 viên tiến đến sản xuất gạch rỗng lò tuynen đùn ép chân không tiêu tốn than dưới 120 - 150 kg/1000 viên. Đến nay sản lượng gạch nung lò tuynen chiếm khoảng 40% số lượng gạch đất sét nung. Từ năm 2000 đến năm 2007 sản lượng gạch xây tăng từ 9 tỷ viên lên 22 tỷ viên. Dự kiến đến năm 2010 sẽ tăng lên 25 tỷ viên, đến năm 2015 là 32 tỷ viên và đến năm 2020 sẽ tăng lên 42 tỷ viên.

Sản xuất gạch đất sét nung với khối lượng lớn trong những năm qua đáp ứng nhu cầu xây dựng là một thành quả đáng tự hào, nhưng đồng thời cũng bộc lộ một số nhược điểm như tiêu tốn một lượng đất dẻo khổng lồ: để sản xuất 1000 viên gạch tiêu chuẩn mất trung bình 1,5 m 3đất sét, tuỳ theo gạch đặc, gạch rỗng. Từ năm 2000 đến năm 2007 sản xuất toàn bộ 120 tỷ viên gạch, mất trên 180 triệu m 3đất sét. Nếu lấy trung bình khai thác 1m 2đất được 2m 3đất sét làm gạch thì diện tích đất canh tác để khai thác là 90 triệu m 3tương đương với 9.000 ha đất canh tác. Trung bình mỗi năm đã biến 1200 ha đất canh tác thành ao hồ, biến ruộng bậc cao thành vùng đất trũng.

Nếu chỉ sử dụng đất sét nung để đến năm 2020 đạt sản lượng 42 tỉ viên, từ 2008 đến 2020 sẽ phải:

- Tiêu tốn tới 600 triệu m 3đất sét, tương đương với 30.000 ha đất canh tác, bình quân mỗi năm mất 2.500 ha, riêng năm 2020 mất 3.150 ha đất canh tác, ảnh hưởng đến an ninh lương thực của nước ta;

- Xây dựng mới 800 nhà máy với lò nung tuynen công suất 25 triệu viên/ năm với tổng vốn đầu tư trên 15.000 tỷ đồng;

- Tiêu tốn 60 triệu tấn than, riêng năm 2020 phải sử dụng 6,3 triệu tấn than.

- Thải ra bầu khí quyển một lượng lớn khí thải độc hại CO 2, SO 2ảnh hưởng đến môi trường sống, sức khoẻ con người, giảm năng suất lúa, cây trồng (năm 2005 sản xuất 18 tỉ viên gạch thải ra 2,902 tỉ tấn CO 2).

Ngoài ra sản phẩm gạch đất sét nung có kích thước nhỏ theo tiêu chuẩn 60 x 110 x 200 mm (có nơi nhỏ hơn), mác gạch bình thường 35 - 50, đối với nhà máy có công nghệ tiên tiến hiện đại sản xuất gạch rỗng kích thước lớn hơn, mác gạch đạt cao nhất 100, gạch kích thước nhỏ tốn công xây tường, tốn nhiều vữa chát không còn phù hợp với xây dựng đương đại, cho các công trình cao tầng, khách sạn hiện đại.

Vì thế nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển, giảm dần sản xuất gạch đất sét nung xuống còn 30% - 50%, chuyển sang sản xuất vật liệu xây dựng không nung lên 50 – 70% sản lượng vật liệu xây.

2. Hiện trạng sản xuất và sử dụng gạch không nung

Ở nước ta từ những năm 60 thế kỷ 20 nhân dân ta đã sản xuất và sử dụng nhiều loại gạch Block trên cơ sở chất kết dính vôi - xỉ nhiệt điện, vôi, puzulum, cốt liệu là đá mạt, xỉ nhiệt điện, cát…

Đến đầu thập niên 80 một số dây chuyền sản xuất gạch Block Bêtông với quy mô công nghiệp đã được đầu tư xây dựng ở nước ta như nhà máy gạch Block không nung Hoa Lư - Ninh Bình, dây chuyền gạch Block Italia tại Đồng Giao - Ninh Bình, nhà máy Vinablock Biên Hoà - Đồng Nai, sản phẩm gạch Block được sử dụng xây dựng nhà ở, kho tàng, tường rào, trạm trại chăn nuôi…

Qua thập niên 90 nhiều dây chuyền được đầu tư xây dựng, đến năm 1998 có tổng số 23 dây chuyền theo công nghệ thiết bị của Italia. Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Cộng hoà Liên bang Đức, Nhật, Pháp…được đưa vào sản xuất với tổng công suất 281 triệu viên (quy tiêu chuẩn) không kể các cơ sở sản xuất thủ công, nhỏ lẻ ở các địa phương khoảng 45 triệu viên. Gạch Block đã được đưa vào xây dựng nhà ở,khách sạn cao tầng như Horison, khách sạn Hàng Chuối, khách sạn Hilton, Trung tâm Hội nghị Quốc tế 11 Lê Hồng Phong, xây dựng nhà máy nhiệt điện Phả Lại, gần đây là sân vận động Mỹ Đình, khu côngnghiệp Bình Xuyên - Vĩnh Phúc…

Mặc dù trong chiến lược phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng của nước ta đến năm 2010 có đề ra mục tiêu phát triển sản xuất vật liệu không nung thay thế gạch đất sét nung đến năm 2000 đạt 10%, năm 2005 là 20%, vào năm 2010 là 30% trong tổng sản lượng vật liệu xây, góp phần giải quyết nhu cầu của toàn xã hội ngày một tăng cao, giảm thiểu khai thác đất sét ruộng. Từ đó đến nay nhiều địa phương đã cho ra đời nhiều dây chuyền sản xuất gạch không nung theo công nghiệp thiết bị Trung Quốc, Hàn Quốc, CHLB Đức, Tây Ban Nha…

Tuy vậy đến nay mục tiêu đề ra không thực hiện được, hiện tại chỉ đạt 7 - 8% gạch không nung trong tổng sản lượng gạch xây, khoảng 1,5 - 1,6 tỉ viên. Vật liệu xây không nung phát triển chậm do nhiều nguyên nhân:

- Bao đời nay dân ta đã quen sử dụng gạch đất sét nung cỡ nhỏ,xây dựng thủ công, phù hợp với lối sản xuất nhỏ. Khi sử dụng gạch block kích thước lớn, nặng, vận chuyển khó khăn nhất là khi đưa lên cao, thợ xây không thích. Quy trình xây gạch block yêu cầu chặt chẽ hơn, đòi hỏi tay nghề người thợ cao hơn.

- Nước ta chưa ban hành đồng bộ, đầy đủ tiêu chuẩn sản phẩm các loại vật liệu xây không nung,quy phạm xây dựng, kết cấu kiến trúc và đơn giá xây dựng đối với gạch block, nên các nhà thiết kế kiến trúc, tư vấn thiết kế xây dựng chưa thể chỉ định thiết kế xây dựng gạch block cho công trình. Do đó hầu hết gạch block vào các công trình cao cấu đều do các nhà thiết kế nước ngoài, chủ đầu tư nước ngoài yêu cầu.

- Giá thành viên gạch block trước đây cao hơn gạch đất sét nung nhất là so với gạch lò đứng thủ công,sử dụng đất ruộng không có thuế đất, giá thanthấp. Nhưng nếu tính theo m 2tường xây thì giá thành xây block không nung không cao hơn (vì vữa xây, vữa trát ít hơn, xây nhanh hơn…).

­- Các nhà đầu tư, chủ công trình nước ta đã quen sử dụng gạch xây đất sét nung, chưa nắm bắt được tính ưu việt của gạch block, vật liệu xây dựng không nungnên chưa quan tâm đến việc sử dụng nó.

3. So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật giữa vật liệu xây dựng không nung và gạch đất sét nung

Ngoài ra, vật liệu xây dựng không nung còn có nhiều ưu điểm nội trội nhất là block bêtông nhẹ kích thước lớn 300 x 200 x 600 hoặc 300x 100x 600 với thể tích lớn dung lượng nhỏ 400 - 1200 kg/m 3, cường độ lớn từ 40 - 100 kg/cm 2giảm nhẹ tải trọng tường xây trong công trình từ 40 - 50%, góp phần làm giảm giá thành xây dựng công trình, đặc biệt ở các vùng đất yếu. Là vật liệu xây dựng rất thích hợp cho các toà nhà cao tầng, xây nhanh, mặt phẳng, không cần trát. Có loại bêtông nhẹ tấm kích thước 1000x 3000x 100 dùng làm tường ngăn rất thuận lợi vừa nhẹ vừa nhanh cách âm, cách nhiệt rất tốt.

Gạch block có kết cáu rỗng thuận lợi cho việc thi công, hệ thống điện nước, cáp thông tin ngầm trong tường. Mảng tường diện tích lớn nhờ lỗ rỗng của viên gạch tạo thuận lợi cho việc tạo các trụ bêtông cốt thép.

4. Một số giải pháp phát triển sản xuất vật liệu xây dựng không nung

Để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây của nước ta đến năm 2020 đạt sản lượng 40 - 42 tỉ viên gạch, đồng thời phải hạn chế lấy đất canh tác, bảo đảm an ninh lương thực, giảm lượng tiêu thụ than, bảo vệ môi trường an ninh xã hội, nhất là trong bối cảnh hiện nay sản lượng gạch không đáp ứng yêu cầu, giá gạch đất sét lên quá cao, có nơi, có lúc tăng 200 - 300% cần phải thực hiện những giải pháp sau:

- Nhanh chóng đầu tư phát triển mạnh mẽ sản xuất và sử dụng rộng rãi vật liệu xây không nung thay thế gạch đất sét nung đạt 30 - 40% trong tổng sản lượng vật liệu xây dựng vào năm 2020, tứcbằng 12 - 16 tỉ viên vật liệu xây không nung, bình quân mỗi năm phải đầu tư mới 1 - 1,4 tỉ viên vật liệu xây không nung.

Căn cứ vào nguồn tài nguyên của từng vùng, nhu cầu của thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng để đầu tư các cơ sở sản xuất vật liệu không nung thích hợp kích thước từ nhỏ đến lớn đa dạng trên các dây chuyền công nghệ 7 triệu viên/ năm, 15 triệu viên, 20 triệu viên, 25 triệu viên và tiến đến 50 triệu viên/ năm (viên tiêu chuẩn).

- Cần nghiên cứu, tính toán để đầu tư xây dựng một số cơ sở sản xuất gạch block bêtông nhẹ tại các thành phố Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, các khu công nghiệp, đô thị lớn, phục vụ cho việc xây nhà cao tầng, công trình ở vùng đất yếu nhằm giảm tải trọng, công trình xây nhanh, thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá, ngành xây dựng.

Gạch block bêtông nhẹ kích thước 300 x100 x600, 300 x200 x600 có dung trọng từ 500 - 800 kg/m 3, cường độ 50 - 100 kg/cm 2và tấm bêtông nhẹ làm tường ngăn 1000 x100 x3000. Công suất mỗi dây chuyền từ 100.000 - 200.000 m 3/ năm, đến năm 2020 đưa sản lượng bêtông nhẹ chiếm trên 10% tổng sản lượng vật liệu xây (khoảng trên 6 triệu m 3bêtông nhẹ).

3. Các cơ quan quản lý nhà nước sớm cho xây dựng và ban hành đồng bộ các tiêu chuẩn đơn giá, quy phạm xây dựng liên quan đến sản xuất và sử dụng gạch block bêtông, sản phẩm bêtông nhẹ vào các công trình xây dựng.

4. Các đơn vị tư vấn thiết kế cần nghiên cứu thiết kế sử dụng vật liệu không nung vào các công trình xây dựng và để xuất chủng các loại sản phẩm cho nhà sản xuất đưa vào sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm.

5. Cần mở rộng việc quảng bá tuyên truyền về hiệu quả kinh tế kỹ thuật trong sản xuất, sử dụng vật liệu xây dựng không nung, tiết kiệm tài nguyên đất canh tác, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, an ninh xã hội. Sử dụng gạch block bêtông nhất là bêtông nhẹ tạo cho công trình bền, đẹp, cách âm cách nhiệt tốt, chất lượng công trình cao, giảm tải trọng công trình, chống động đất tốt hơn, hạ giá thành xây dựng.

6. Cần có biện pháp quản lý chặt chẽ việc sản xuất gạch đất sét nung, nhất là các cơ sở sản xuất gạch thủ công, tiêu tốn tài nguyên, nhiên liệu, ô nhiễm môi trường, chất lượng kém. Thực hiện chủ trương của nhà nước: không xây dựng mới, tiến tới xoá bỏ các lò gạch thủ công. Bộ Tài chính cần nghiên cứu chính sách thuế sử dụng đất làm gạch ngói để hạn chế khai thác đất ruộng, khuyến khích sử dụng đất đồi.

7. Các doanh nghiệp cơ khí cần tích cực tham gia vào nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị, khuôn mẫu sản xuất gạch block bêtông, thiết bị cho dây chuyền sản xuất bêtông nhẹ, để giảm nhập khẩu, góp phần hạ vốn đầu tư công trình.

Nguồn: Người xây dựng, 6 - 2008, tr 19

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.