Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 07/06/2012 20:34 (GMT+7)

Phát triển du lịch bền vững trong sự kết hợp với quốc phòng – an ninh

Tuy nhiên, du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa sâu sắc, cần có sự phối hợp trên nhiều mặt của các cấp chính quyền, các ngành có liên quan với sự chủ trì của ngành du lịch nhằm tạo môi trường thuận lợi để du lịch Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước, đáp ứng được quan điểm của Đảng và Nhà nước ta: Phát triển du lịch phải đồng thời đạt hiệu quả trên nhiều mặt về kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội. Muốn vậy, phát triển du lịch phải luôn gắn kết với hoạt động liên ngành, trong đó đặc biệt chú trọng đến kết hợp giữ phát triển du lịch với củng cố, tăng cường quốc phòng - an ninh.

Vài nét về nhận thức và nội dung kết hợp

Du lịch chỉ có thể phát triển trong điều kiện đất nước hòa bình, ổn định về chính trị, lành mạnh về môi trường kinh tế - xã hội. Tăng cường quốc phòng - an ninh, tạo sự ổn định về chính trị - xã hội trên từng địa bàn, trong mỗi quốc gia là tạo môi trường thuận lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội cho du lịch nơi đó phát triển. Vì vậy, kết hợp giữa phát triển du lịch với củng cố quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ quan trọng cần được đặt ra không những cho hai ngành du lịch và quốc phòng - an ninh mà còn cho cả các cấp, các ngành có liên quan.

Nội dung kết hợp giữa phát triển du lịch với tăng cường quốc phòng - an ninh phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể của đất nước, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển du lịch trong từng địa bàn, qua các thời kỳ, đặc điểm của từng thị trường du khách và được thể hiện ở một số nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, kết hợp trong việc ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về an ninh, trật tự có liên quan đến hoạt động du lịch như các quy định về hải quan, thủ tục xuất cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động du lịch liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh như xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, phát triển sản phẩm du lịch trên từng địa bàn và trong cả nước; hợp tác, ký kết các điều ước quốc tế về du lịch. Việc lập quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển du lịch và sản phẩm du lịch phải đảm bảo huy động được thế mạnh, tiềm năng du lịch, đáp ứng cả hai mục tiêu vừa phát triển du lịch vừa tăng cường quốc phòng - an ninh ở từng địa phương và trong cả nước, phù hợp với xu thế phát triển chung của khu vực và trên thế giới.

Thứ hai, kết hợp trong việc triển khai nhiệm vụ an ninh - quốc phòng liên quan đến hoạt động du lịch và thực hiện các hoạt động phát triển du lịch gắn với củng cố quốc phòng - an ninh. Nhiệm vụ củng cố quốc phòng - an ninh trong các hoạt động du lịch được thể hiện trong phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, tổ chức sự kiện du lịch và quản lý du khách là người nước ngoài trong quá trình du lịch (đón tiếp, phục vụ và tiễn đưa du khách). Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và sản phẩm du lịch phải phù hợp về địa điểm, giới hạn về địa bàn hoạt động và có khả năng phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh cần thiết hoặc khi đất nước chuyển từ thời bình sang thời chiến. Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch cần gắn với các hoạt động phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác trong công tác đảm bảo an ninh trật tự đối với những tổ chức, đơn vị tham gia hoạt động du lịch.

Thứ ba, kết hợp triển khai công tác an ninh - quốc phòng và hoạt động du lịch được thực hiện thông qua việc hướng dẫn các đơn vị kinh doanh du lịch thực hiện đúng các văn bản quy phạm pháp luật về an ninh liên quan đến du lịch như quy định về thủ tục xuất, nhập cảnh, cư trú, đi lại tại Việt Nam và các quy định khác liên quan đến an ninh trật tự, hướng dẫn xây dựng chế độ, nội quy bảo vệ cơ quan, công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm, bảo vệ bí mật nhà nước; củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ doanh nghiệp du lịch và các hoạt động liên quan đến an ninh trực tiếp, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, thực hiện chính sách sĩ quan dự bị, đồng thời làm công tác hậu phương quân đội trong các đơn vị kinh doanh du lịch.

Kết quả công tác kết hợp

Nhiệm vụ vừa phát triển du lịch vừa được tăng cường quốc phòng - an ninh đã được lãnh đạo các cấp, các ngành quan tâm và thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động du lịch như Luật Du lịch, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam năm 2001 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020; Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 - 2010. Để tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong hoạt động du lịch, Bộ Công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Thông tư liên tịch số 06/2009/TTLT-BCA-BVHTTDL ngày 22 tháng 7 năm 2009 thống nhất hướng dẫn nội dung kết hợp và phân định rõ nhiệm vụ của các ngành liên quan cho những hoạt động này. Vì vậy, sự kết hợp giữa hai lĩnh vực du lịch và quốc phòng - an ninh trong những năm qua đã có những chuyển biến quan trọng cả về nhận thức và việc làm cụ thể, tạo môi trường thuận lợi cho du lịch phát triển.

Tổng cục Du lịch và Bộ Công an đã kết hợp nghiên cứu, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến du lịch như thủ tục xuất, nhập cảnh, quá cảnh, hải quan đối với người nước ngoài; quy chế đón khách quá cảnh không cần thị thực; quy chế quản lý khách lưu trú, đi lại cho người nước ngoài và phối hợp xây dựng phương án miễn thị thực cho công dân các nước là thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam. Trên cơ sở đó, Bộ Ngoại giao đã ban hành Quyết định số 808/2005/QĐ-BNG về miễn thị thực cho công dân 4 nước Bắc Âu gồm Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 229/QĐ-TTg về quy chế nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại đảo Phú Quốc. Những quy định như trên đã tạo môi trường thuận lợi cho người nước ngoài đến Việt Nam du lịch, để du lịch nước nhà phát triển đa dạng và có chất lượng tương xứng với trình độ của các nước trong khu vực và quốc tế.

Ngành An ninh - Quốc phòng từ trung ương đến các địa phương đã có sự phối hợp chặt chẽ với ngành du lịch cả nước trong xây dựng, thực thi chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển du lịch và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng sản phẩm du lịch bằng việc thông báo các chủ trương, quy định mới về an ninh, trật tự có liên quan đến hoạt động du lịch; những địa bàn cụ thể không được tổ chức cho khách du lịch đến; những địa bàn trọng điểm về quốc phòng và an ninh cần được tham khảo ý kiến của ngành Công an trước khi mở tuyến du lịch mới. Tất cả đã tạo điều kiện để huy động được tối đa các nguồn lực cho du lịch phát triển bền vững.

Hoạt động du lịch trong thời gian qua rất sôi động, nhưng cơ bản vẫn giữ được an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đã quan tâm xây dựng lực lượng tự vệ, chấp hành tốt quy định về sĩ quan dự bị, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Việc phát triển du lịch ở các vùng biên giới, hải đảo đã góp phần tích cực trong việc khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển, hải đảo và đất liền.

Một số hạn chế phát sinh trong quá trình kết hợp

Quá trình thực hiện nhiệm vụ vừa phát triển du lịch, vừa tăng cường quốc phòng - an ninh trong thời gian vừa qua ở nước ta đã đạt được những thành quả đáng khích lệ, tuy nhiên cũng bộc lộ một số mâu thuẫn:

Mâu thuẫn giữa yêu cầu giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ với chủ trương mở rộng thị trường hợp tác du lịch, đơn giản về thủ tục, tạo môi trường thuận lợi cho du khách và cho hoạt động du lịch. Các cấp, các ngành chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu của mối quan hệ tương hỗ mang tính biện chứng giữa hai lĩnh vực nêu trên, dẫn đến có lúc, có nơi coi nặng quốc phòng - an ninh làm hạn chế phát triển du lịch hoặc ngược lại, coi nặng phát triển du lịch mà ít quan tâm đến củng cố quốc phòng - an ninh.

Mâu thuẫn giữa nhu cầu tăng khả năng cạnh tranh của ngành Du lịch với việc tăng cường quốc phòng - an ninh, giữa đơn giản về thủ tục, tạo môi trường thuận lợi cho du khách và cho hoạt động du lịch với nhiệm vụ quản lý chặt chẽ du khách vì mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh. Các thủ tục xuất, nhập cảnh, quản lý người nước ngoài, đi lại, cư trú trong những năm qua ở nước ta đã có cải tiến đáng kể, tạo nhiều thuận lợi cho khách vào Việt Nam du lịch nhưng vẫn chưa theo kịp các nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực.

Mâu thuẫn giữa khai thác tối đa tiềm năng cho đầu tư, phát triển du lịch và sản phẩm du lịch với nhiệm vụ giữ gìn bí mật quốc phòng - an ninh mà chưa được giải quyết hợp lý.

Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ tăng cường quốc phòng an ninh trong phát triển du lịch, trong phối hợp liên ngành còn thiếu sự phối hợp đồng bộ, thiếu nội dung, chương trình, kế hoạch cụ thể và hiệu quả kết hợp chưa cao; trách nhiệm của từng ngành chưa được phân định cụ thể và thiếu sự ràng buộc.

Một số giải pháp phát triển du lịch với tăng cường quốc phòng - an ninh

Phát triển du lịch với vai trò ngành kinh tế mũi nhọn là một hướng chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước hiện nay. Trong phát triển du lịch cần kiên trì quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là phát triển du lịch phải đồng thời đạt hiệu quả trên nhiều mặt về kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội. Để làm được điều đó, cần tập trung vào một số giải pháp sau đây.

Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý có hiệu quả và hiệu lực của Nhà nước, vai trò làm chủ của nhân dân trong kết hợp phát triển du lịch với tăng cường quốc phòng - an ninh. Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các vùng có điều kiện phát triển du lịch và các bộ ngành liên quan cần nghiên cứu ra nghị quyết, chỉ thị về phát triển du lịch, trong đó cần đề cập đến nhiệm vụ tăng cường quốc phòng - an ninh trong các khu du lịch, trong hoạt động du lịch, trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, trong phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường du lịch vừa đáp ứng được mục tiêu phát triển du lịch vừa góp phần củng cố, tăng cường quốc phòng - an ninh kể cả trong thời bình hoặc chuyển từ trạng thái thời bình sang thời chiến.

Hai là, ngành du lịch làm nòng cốt dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, sự điều phối của Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch, phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan và chính quyền các cấp triển khai thực hiện chiến lược phát triển du lịch một cách hiệu quả. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cần cụ thể hóa các nội dung, chương trình và những quy định cụ thể trong việc kết hợp phát triển du lịch với củng cố quốc phòng - an ninh phù hợp với từng vùng, từng địa bàn và địa phương để làm căn cứ kết hợp trong quá trình hoạt động du lịch.

Ba là, tiếp tục nâng cao nhận thức về mối quan hệ tương hỗ giữa phát triển du lịch với tăng cường quốc phòng - an ninh và chuyển hóa thành hành động cụ thể trong sự nghiệp phát triển du lịch. Cần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương về hiệu quả nhiều mặt do ngành du lịch mang lại và mối quan hệ biện chứng giữa phát triển du lịch và tăng cường quốc phòng - an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và làm rõ mối quan hệ tương hỗ mang tính biện chứng này trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tăng cường giáo dục toàn dân về du lịch; về tiềm năng, vai trò, vị trí và hiệu quả nhiều mặt do du lịch mang lại; về những mặt trái, những hiện tượng tiêu cực có thể phát sinh trong quá trình phát triển du lịch (du nhập văn hóa đồi trụy vi phạm thuần phong mỹ tục, hoạt động gián điệp, thu thập thông tin).

Bốn là, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và các quy định về kết hợp phát triển du lịch với tăng cường quốc phòng - an ninh. Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động du lịch phù hợp với thông lệ quốc tế và tăng cường hội nhập như chính sách xuất cảnh, nhập cảnh và quản lý người nước ngoài, các quy định về hải quan, chính sách tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế. Cần xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành (Du lịch, Công an, Bộ đội biên phòng, Ngoại giao) để giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch trong đầu tư phát triển sản phẩm, trong khai thác các tài nguyên du lịch, trong xác định địa điểm và phương thức đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, trong tuyên truyền và quảng bá du lịch, trong bảo vệ và tôn tạo môi trường tự nhiên, xã hội, trong đào tạo cán bộ và xây dựng điều lệ hoạt động doanh nghiệp du lịch vừa đảm bảo kịp thời cho phát triển du lịch, vừa đáp ứng được yêu cầu củng cố và tăng cường quốc phòng - an ninh quốc gia./.


Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.