Phát triển đàn lơn nạc và chăn nuôi quy mô tập trung hướng đi tất yếu của chăn nuôi Hà Tây
Một là: Số trang trại chăn nuôi ngày càng nhiều, hai là: Năng suất chất luợng sản phẩm ngày càng cao. Năm 2005, tổng đàn lợn toàn tỉnh có 1,32 triệu con tăng 0.2% so với năm 2004, đàn lợn nái ổn định 133.000 con. Nhưng số lượng lợn thịt xuất chuồng tăng 6.5% sản lượng lợn thịt xuất chuồng tăng 8.3%, và số lượng lợn nuôi thịt hướng nạc chiếm 30% tổng đàn lợn thịt, điều đó chứng minh rằng: chăn nuôi lợn đã chuyển theo hướng sản xuất hàng hoá tăng năng suất lao động, tăng tỉ lệ nạc và chất lượng thịt sản xuất theo yêu cầu của thị trường.
Những năm trước đây nuôi lợn trong các nông hộ thường theo phương thức chăn nuôi truyền thống, sản xuất nhỏ lẻ, mỗi hộ nuôi vài con, thức ăn tận dụng, năng suất thấp, thịt lợn mỡ nhiều. Ngày nay, cùng với sự đổi mới và phát triển của ngành nông nghiệp, phương thức chăn nuôi đã thay đổi hẳn đó là chăn nuôi quy mô tập trung, sử dụng thức ăn nông nghiệp vận dụng những quy trình công nghệ tiên tiến về di truyền giống, về dinh dưỡng vật nuôi, vệ sinh thú y và quản lí chăm sóc. Như vậy chăn nuôi tập trung vừa là điều kiện vừa là kết quả của đổi mới kĩ thuật và công nghệ trong chăn nuôi. Muốn tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá chất lượng cao phải chăn nuôi quy mô tập trung và khi đã có các trang trại chăn nuôi tập trung sẽ bắt buộc áp dụng các kĩ thuật mới để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Phát triển chăn nuôi quy mô các trang trại tập trung có ưu thế như vậy nên sẽ là hướng đi tất yếu của chăn nuôi ở tỉnh ta cũng như tất cả các nước trong khu vực. Tuy nhiên, phát triển chăn nuôi tập trung cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết.
1. Vấn đề bảo vệ môi trường: Một ngành sản xuất tồn tại và phát triển bền vững phải có hiệu quả đồng thời bảo vệ môi trường, đặc biệt đối với chăn nuôi tập trung vấn đề bảo vệ môi trường càng phải quan tâm đó là xử lí chất thải trong chăn nuôi, và đảm bảo an toàn dịch bệnh, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có thể lây sang người. Vì vậy mỗi cơ sở chăn nuôi phải có diện tích đủ lớn, xa khu dân cư và hình thành một khu riêng biệt.
2. Khi chuyển sang phương thức chăn nuôi công nghiệpđể có năng suất và chất lượng hiệu quả đòi hỏi trình độ quản lí của chủ trang trại và tay nghề của người lao động cũng phải nâng cao đáp ứng yêu cầu sản xuất, như quản lí công tác giống, quy trình thú y, vấn đề dinh dưỡngv.v...
3. Vốn đầu tư cho xây dựng và xử lí môi trường đòi hỏi phải đầu tư lớn. Để nuôi một lợn nái đến khi có sản phẩm phải đầu tư chuồng trại, giống, thức ăn xấp xỉ 8-9 triệu đồng/con. Và thời gian ít nhất từ lúc phối giống đến lúc bán sản phẩm phải 6-8 tháng.
Như vậy vốn đầu tư trong một trang trại quy mô trung bình 60 con lợn nái khoảng 500 triệu đồng một số vốn không nhỏ đối với người nông dân và cần sự hỗ trợ của ngân hàng cho vay vốn, cùng với sự trợ giúp của địa phương và các cơ quan kĩ thuật về giống, thức ăn, thú y để đầu tư có hiệu quả. Nuôi lợn trang trại không phải để xóa đói giảm nghèo mà phải những người có điều kiện mới có thể thực hiện được.
4. Vấn đề tiêu thụ sản phẩm:Ngành chăn nuôi gia cầm và lợn trong những năm qua đã nhiều lần chứng kiến sự thăng trầm về giá cả sản phẩm lên xuống thất thường. Riêng thịt lợn, những năm trước có xuất khẩu đi Hồng Kông mặt hàng lợn choai (loại lợn có tỉ lệ nạc cao) và lợn sữa. Từ năm 2005 lợn thịt chủ yếu tiêu thụ nội địa. Ở miền Bắc, lợn thịt, lợn giống được chuyển một phần vào các tỉnh phía Nam , giá cả lợn thịt và lợn giống trong năm cũng phụ thuộc nhiều yếu tố. Vì vậy phát triển công nghiệp giết mổ và chế biến thịt nói chung cần có sự quan tâm của Nhà nước và của tỉnh.
Tóm lại, để chăn nuôi phát triển cần phải giải quyết các vấn đề nêu trên một cách đồng bộ. Hy vọng với lợi thế là một tỉnh ven đô, chăn nuôi Hà Tây sẽ trở thành ngành sản xuất chính, tương xứng với tiềm năng sẵn có của tỉnh.
Nguồn: Tạp chí Chăn nuôi - tháng 8/2006, trang 32, 33.








