Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 04/11/2011 20:12 (GMT+7)

Phát thải khí nhà kính và nguyên nhân tăng nồng độ khí nhà kính

Năm 2006, nồng độ CO 2đo được 381,2 phần triệu (ppm), nồng độ CH 41782 (ppb) và nồng độc N 2O là 320, 1ppb. So với năm 1850, các con số này đã vượt tương ứng 136%, 255% và 119% (bảng 5.1).

Giai đoạn 1990 đến nay, thống kê về số lượng phát thải khí nhà kính phân theo các nước do ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) tính toán và thu nhập được thể hiện trong bảng.

Bảng 1: Nồng độ khí nhà kính trong khí quyển năm 2006

CO 2(ppm)

CH 4(ppb)

N 2O (ppb)

Nồng độ trung bình toàn cầu năm 2006

381,2

1782

320,1

Lượng tăng so với năm 2005

2,0

-1

0,8

Lượng tăng trung bình năm trong 10 năm qua

1,93

2,4

0,76

Tỷ lệ so với năm 1850

136%

255%

119%

Nguồn: Tạp chí “Thông tin biến đổi khí hậu” - Số 1, ONRE, 2008

Đối với các nước đang phát triển, tổng lượng phát thải không bao gồm khí phát sinh trong sử dụng đất và lâm nghiệp, giảm tới 37% từ 5,908 Gt CO 2tương đương năm 1992 xuống còn 3,724 Gt CO 2tương đương năm 2006. Nếu bao gồm việc sử dụng đất và lâm nghiệp thì trong cùng khoảng thời gian trên, tỷ lệ này giảm 35%. Từ năm 2000 đến 2006, phát thải khí nhà kính của các nước tăng 7,4% không bao gồm sử dụng đất và lâm nghiệp và 5,5% nếu tính cả lượng khí phát sinh này. Từ năm 2005 đến năm 2006, tỷ lệ tương ứng này giảm còn 3,1% và 6,5%.

Đối với các nước phát triển, tổng phát thải bao gồm việc sử dụng đất làm lâm nghiệp tăng từ 13,006 Gt CO 2tương đương năm 1990 tới 14,296 Gt CO 2tương đương vào năm 2006, tương ứng tăng 9,1%. Trong giai đoạn 2000 và 2006, phát thải khí nhà kính không tính đến sử dụng đất và lâm nghiệp. Từ năm 2005 đến năm 2006, tỷ lệ này giảm tương ứng còn 0,9% và 1,2%.

Nhiệt độ trái đất đã tăng khoảng 0,5 0C từ cuối thế kỷ XIX. Người ta đã quan sát được nhiệt độ không khí bề mặt của những năm nóng nhất thuộc giai đoạn 1980 – 2000. Tốc độ gia tăng và mức thay đổi nhiệt độ cuối cùng sẽ được quyết định bởi CO 2, CH 4, NO 2và khí nhà kính khác. Hiện nay, nồng độ CO 2trong khí quyển đóng góp khoảng 70% hiệu ứng nhà kính Trái đất.

Để tiên đoán các ảnh hưởng của khí hậu do CO 2, phần lớn những mô phỏng phức tạp như những “mô hình lưu thông tổng quát 3 chiều” (3-dimensiol general circulation models – GCM), mô phỏng nhiều dòng chuyển động khối phức tạp và các quá trình khác tham gia vào sự lưu thong khí quyển. Một phỏng đoán khác cho rằng nhiệt độ Trái đất sẽ tăng từ 1,5 - 3 0C đến năm 2010 so với năm 1990.

Ở quy mô hành tinh, tác động biến đổi khí hậu thể hiện rõ ở xu thế tăng của nhiệt độ bề mặt trái đất, trên các đỉnh núi cao, dẫn đến hiện tượng nước biển dâng và “biển tiến”. Ở quy mô khu vực, biến đổi khí hậu đã tác động mạnh mẽ đến các thiên tai hiện hữu, với tính chất biến đọng mạnh hơn, cực đoan hơn, bất thường hơn cả về tần suất và cường độ. Biểu hiện của những hiện tượng cực đoan này càng rõ hơn vào các thời kỳ ENSO – El Nino Southern Oscillation. Ví dụ, ở khu vực Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng, sự thiếu hụt lượng mưa dẫn đến hiện tượng hạn hán và cháy rừng…., vào những năm El Nino; tần suất bão, áp thấp nhiệt đới tăng lên cùng với sự tương tác phức tạp giữa các hệ thống thời tiết khác nhau dẫn đến mưa lớn trên diện rộng gây lũ lụt, sạt lở đất… vào các thời kỳ La Nina. Điều đó có thể nhận thấy qua một số minh chứng gần đây như sự xuất hiện hoạt động bất thường của bão, xoáy thuận nhiệt đới (cường độ mạnh hơn, di chuyển phức tạp, khó dự báo), điển hình là cơn bão

Ở quy mô hành tinh, tác động biến đổi khí hậu thể hiện rõ ở xu thế tăng của nhiệt độ bề mặt trái đát, trên các đỉnh núi cao, dẫn đến hiện tượng nước biển dâng và “biển tiền”. Ở quy mô khu vực, biến đổi khí hậu đã tác động mạnh mẽ đến các thiên tai hiện hữu, với tính chất biến động mạnh hơn, cực đoan hơn, bất thường hơn cả về tần suất và cường độ. Biểu hiện của những hiện tượng cực đoan này càng rõ hơn vào các thời kỳ ENSO – El Nino Southern Oscillation. Ví dụ, ở khu vực Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng, sự thiếu hụt lượng mưa dẫn đến hiện tượng hạn hán và cháy rừng…., vào những năm El Nino; tần suất bão, áp thấp nhiệt đới tăng lên cùng với sự tương tác phức tạp giữa các hệ thống thời tiết khác nhau dẫn đến mưa lớn trên diện rộng gây lũ lụt, sạt lở đất… vào các thời kỳ La Nina. Điều đó có thể nhận thấy qua một số minh chứng gần đây như sự xuất hiện hoạt động bất thường của bão, xoáy thuận nhiệt đới (cường độ mạnh hơn, di chuyển phức tạp, khó dự báo), điển hình là cơn bão Katrina (23 – 31/08/2005) đổ bộ vào Mỹ, hoặc những cơn bão có quỹ đạo thất thường, ít khi đi vào dải cực Nam của Việt Nam như bão Linda (31/10 – 03/11/1997), bão Duria (26/11 – 5/12/2006), hiện tượng nắng nóng bất thường ở châu Âu, mưa cực lớn hoặc sự dịch chuyển của các tâm mưa lớn, sự thiếu hụt lượng mưa dẫn đến khô hạn, tần suất xuất hiện các hiện tượng thời tiết nguy hiểm (tố, lốc, vòi rồng…) tăng lên. Sự nguy hiểm của những biến động này là từ những thiên tai cực đoan có thể dẫn đến thảm hoạ khôn lường. Do đó, trong những năm gần đây, trên thế giới và ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về bài toán khí hậu cực đoan hay các hiện tượng khí hậu cực trị (Extreme Climate Event – ÊC) trong mối quan hệ với biến đổi khí hậu.

Về khái niệm “Hiện tượng khí hậu cực đoan” và “biến đổi khí hậu”, báo cáo lần thứ tư “Fourth Assesment Report – AR4 của Tổ chức Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (The intergovenmental Panel on Climate Change – IPCC) đã định nghĩa như sau:

Trong 12 năm gần đây, từ 1995 – 2006, có 11 năm trừ năm 1996 là những năm nóng nhất kể từ năm 1950. Biến đổi của các cực trị nhiệt độ phù hợp với sự nóng lên toàn cầu. Số liệu qún trắc cho thấy, số ngày đông giá giảm đi ở hầu hết khắp các vùng vĩ độ trung bình, số ngày cực nóng (10% số ngày hoặc đêm nóng nhất ) tăng lên, số ngày cực suất và thời gian hoạt động của sóng nóng tăng lên ở nhiều địa phương khác nhau, nhất là thời kì đầu nửa cuối thế kỷ XX. Tồn tại sự tương quan chặt chẽ giữa những ngày khô hạn và nền nhiệt độ mùa hè trên các vùng lục địa nhiệt đới. Sự kiện mưa lớn tăng lên ở nhiều vùng lục địa từ khoảng sau năm 1950, thậm chí ở cả những nơi có tổng lượng mưa giảm. Người ta đã quan trắc thấy những trận mưa kỷ lục hiếm thấy (1 năm trong 50 năm).

Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái đất đã nóng lên khoảng 0,6 0C. Năm 2006 là năm nóng nhất, nhiệt độ trung bình ở Anh cao hơn so với bất cứ thời điểm nào kể từ năm 1659. Các dấu hiệu biến đổi khí hậu xuất hiện trên thế giới hiện là:

- Mùa đông ít tuyết ở khu vực trượt tuyết thuộc dãy Alpơ

- Hạn hán triền miên ở châu Phi.

- Các sông băng trên núi tan chảy nhanh nhất trong vòng 5.000 năm qua.

Năm 2006, ở khắp mọi nơi trên thế giới đều thấy những tác động phản hồi do nhiệt độ tăng gây hậu quả xấu.

Năm 2007, Uỷ ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu của LHQ (IPCC) và các nhà khoa học lo ngại rằng, những tác động phản hồi sẽ bắt đầu đẩy khí hậu quá ngưỡng giới hạn an toàn mà không dễ gì khắc phục. Có hai loại tác động phản hồi giữ vai trò điều tiết khí hậu trái đất trong tương lai.

Các đại dương đang có xu thế ấm lên. Theo tính toán 1/3 các vùng đại dương rộng lớn trên thế giới (18 trong số 64 khu vực) đang có xu thế ấm lên với tốc độ tăng từ 2-4 lần so với mức trung bình được ghi nhận trước đây. Điều đó dẫn đến gia tăng rủi ro cho đời sống ở biển và ngư nghiệp. Do đánh bắt quá mức, ô nhiễm vùng ven biển, suy thoái chất lượng nước cùng với biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu đang gây áp lực lớn đến hệ sinh thái (HST) biển. Điều này đã được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) cảnh báo tại Hội nghị quốc tế và Đại dương diễn ra tại Hà Nội, tháng 4/2008. Theo thống kê của UNEP thì gần như không có khu vực nào còn nguyên sơ và hơn 40% đại dương trên thế giới bị ảnh hưởng nặng do hiện tượng trên. Những khu vực bị con người tác động mạnh nhất là biển Bắc, các vùng biển Tây Nam Trung Quốc, biển Ca-ri-bê, Địa Trung Hải, biển Đỏ, Vịnh Gulf, biển Bering cùng với các nhà nghiên cứu cho rằng, các đại dương nằm ở vùng Cực ít bị ảnh hưởng, nhưng các dải băng tan chảy sẽ khiến chúng dễ bị tổn thương hơn.

Theo các kết quả nghiên cứu, biến đổi khí hậu có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng các dịch bệnh ở đại dương làm suy giảm sự lành mạnh của các hệ sinh thái biển, phá huỷ tài nguyên (gần một nửa số rạn san hô trên thế giới bị thiệt hại nặng). Ngoài ra, còn có những lo ngại khác đối với cỏ biển, rừng ngập mặn, núi ngầm dưới biển, rạn san hô và thềm lục địa. Các thuỷ vực ấm lên bất thường có thể còn gây ra các hiện tượng “tẩy trắng” san hô – nơi các vi tảo sống trong các mô của san hô và cung cấp lượng lớn chất dinh dưỡng. Trong trường hợp nghiêm trọng nhất, có thể tiêu diệt toàn bộ cả cụm san hô. John Bruno (2007) nhấn mạnh, ít nhất một nửa số rạn san hô đang tồn tại trên thế giới đã biến mất trong nửa sau của thế kỷ XX. Bruno so sánh các rạn san hô với những cánh rừng, trong đó có cả hai đều tạo ra hệ sinh thái phức hợp là nơi cư trú của nhiều hải sản. Cho đến nay, trên toàn cầu san hô đang mất dần với tốc độ khoảng 1% năm, gần 2 lần tốc độ biến mất của rừng mưa nhiệt đới.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.