Phát hiện và điều trị ung thư đại trực tràng
Các xét nghiệm dùng trong ung thư đại trực tràng
- Thử máu: để biết người bệnh có thiếu máu (giảm số lượng hồng cầu) không? Đa số bệnh nhân mắc bệnh ung thư đại trực tràng bị thiếu máu do chảy máu rỉ rả ở bướu thời gian dài.
- Xét nghiệm chức năng gan: vì ung thư đại tràng có thể di căn qua gan.
- Tìm các chất chỉ điểm ung thư: để theo dõi sau khi bệnh nhân được điều trị.
- Sinh thiết: khi nội soi đại tràng, nếu thấy có tổn thương thầy thuốc sẽ lấy một mẫu mô đem thử và xem dưới kính hiển vi để xác định có tế bào ung thư hiện diện hay không.
- Siêu âm: cho hình ảnh nội tạng trong cơ thể. Có hai loại siêu âm:
+ Siêu âm qua nội soi trực tràng để đánh giá mức độ xâm lấn của ung thư trực tràng.
+ Siêu âm trong khi mổ để tìm di căn gan.
- CT Scanlà dùng X quang tạo nên một ảnh, sau đó có phần mềm vi tính dựng lại để cho hình ảnh nội tạng rất chính xác.
CT Scan giúp biết ung thư có lan qua gan phổi hay các cơ quan khác hay không? CT cũng hướng dẫn thấy thuốc sinh thiết khối u chính xác hơn. Trong khi chụp CT, chuyên viên có thể dùng chất cản quang uống hay tiêm chích để nhìn hình ảnh khối u rõ hơn.
CT cũng tạo ra hình ảnh nội soi đại tràng ảo. Nếu thấy rõ bất thường thì cho người bệnh nội soi đại tràng:
- MRI: tương tự như CT, MRI cũng chụp cắt lớp cơ thể. Tuy nhiên MRI dúng sóng từ trường, còn CT dùng tia X. Khi chụp MRI, chuyên viên cũng có thể dùng thuốc cản quang.
- X quang phổiđể biết ung thư có di căn qua phổi hay không?
- PET Scan: trong loại test này người ta dùng đường gắn với chất phóng xạ. Tế bào ung thư sẽ bắt lấy nhiều đường. PET có lợi khi thầy thuốc nghĩ đến khả năng ung thư lan tràn nhưng không rõ vị trí. Ngày nay PET Scan cho hình ảnh rất rõ vì phối hợp với CT Scan.
- Chụp mạch máu: để khảo sát mạch máu của khối ung thư để khi mổ cắt bỏ khối bướu biết trước để tránh chảy máu nhiều.
Khi đã xác định ung thư, điều quan trọng là phải đánh giá xem ung thư lan tràn đến đâu vì kết quả điều trị cũng như tiên lượng bệnh nhân đều tuỳ thuộc vào độ xâm lấn của ung thư. Đối với ung thư giai đoạn sớm, đôi khi chỉ cần phẫu thuật cắt bỏ bướu là đủ. Với ung thư đã di căn xa cần phải điều trị đa mô thức, nghĩa là phối hợp phẫu thuật với hoá trị và xạ trị.
Các giai đoạn của ung thưthường được ký hiệu bằng số La Mã từ I đến IV, nếu số càng nhỏ thì ung thư còn khu trú, sẽ càng cao thì ung thư càng nặng.
Điều trị cũng như các loại ung thư khác, điều trị ung thư đại trực tràng bằng cách phối hợp đa mô thức: phẫu thuật, hoá trị và xạ trị.
* Phẫu thuậtlà phương pháp điều trị chính, thông thường phẫu thuật viên sẽ cắt đoạn đại tràng có ung thư cùng các hạch đi kèm rồi nối hai đầu ruột lại và bệnh nhân vẫn đi cầu như bình thường. Với ung thư đại tràng còn sớm, có thể mổ cắt bướu qua nội soi ổ bụng với các đường mổ nhỏ, bệnh nhân sẽ ít đau sau mổ và phục hồi nhanh.
Nếu ung thư phần dưới trực tràng, gần hậu môn thì phải cắt toàn bộ hậu môn, trực tràng, đại tràng sigma và phần trên được đưa ra ngoài làm hậu môn nhân tạo vĩnh viễn; sau mổ bệnh nhân sẽ đi cầu ổ bụng.
Nếu ung thư trực tràng xâm lấn qua cơ quan kế bên thì phải cắt rộng thêm các cơ quan như: bàng quang, tiền liệt tuyến (hay tử cung) và phải mở đường tiểu ra da.
* Xạ trịđể diệt tế bào ung thư, làm teo khối ung bướu. Công dụng chính của xạ trị trong ung thư đại tràng là khi ung thư dính vào một cơ quan nội tạng hay dính vào thành bụng, phẫu thuật không chắc lấy hết tế bào ung thư, vì thế dùng xạ trị hỗ trợ để diệt hết tế bào còn sót.
* Hoá trịlà dùng thuốc để diệt tế bào ung thư, các thuốc vào máu và đi khắp cơ thể nên phương pháp này có lợi trong trường hợp ung thư đã tiến triển xa. Hiện nay, liệu pháp nhắm trúng đích là phương pháp mới nhất trong hoá trị hỗ trợ, liệu pháp nhắm trúng đích chỉ có tác dụng diệt tế bào ung thư chớ không ảnh hưởng lên tế bào bình thường của cơ thể; trong phương pháp này, y học đã sản xuất được kháng thể đơn dòng Cetuximab điều trị ung thư đại trực tràng.
Phòng bệnh : hiện nay có một số biện pháp giúp làm giảm suất độ ung thư đại trực tràng.
- Test tầm soát: giúp phát hiện sớm bệnh để điều trị sớm. Tầm soát cũng giúp tìm ra và cắt pô líp để phòng ngừa ung thư.
- Khẩu phần ăn và thể dục: nên dùng nhiều thực phẩm có nguồn gốc thực vật (trái cây và rau cải) hằng ngày, hạn chế dùng thức ăn có nhiều dầu mỡ. Một số nghiên cứu cho thấy: hằng ngày dùng vitamin, axit folic, canxi có thể giảm nguy cơ ung thư đại tràng.
Vận động thường xuyên hằng ngày: ít nhất 10 phút mỗi ngày.
- Aspirincó thể ngăn chặn một số loại pô líp và Celebrexcó thể giúp ngăn ngừa pô líp ở người thân trong gia đình có nhiều người bị đa pô líp di truyền. Tuy nhiên, các loại thuốc này có phản ứng phụ và gây tai biến nên không dùng đại trà cho việc phòng ngừa ung thư đại trực tràng.
- Nếu có pô lip thì cắt pô lip sớm.








