Phát hiện quan trọng về gốm cổ Chu Đậu: Đã tìm thấy tác giả của chiếc bình gốm hoa lam tàng trữ tại Bảo tàng I-xtan-bun
Sự kiện bắt đầu từ Ban Thông sử và Bảo tàng Hải Hưng khai quật các lò gốm cổ ở khu vực này lần đầu vào ngày23-4-1986. Việc phát hiện trung tâm gốm mỹ nghệChuĐậu đã làm nhiều nhà khảo cổ học trong và ngoài nước ngạc nhiên và từng bước phải điều chỉnh lại nhận thức của mình. Những người quá thận trọng dẫn đến tự ty cũng như những vị có tư tưởng nước lớn thì cho rằng Việt Nam ở thế kỷ XV khó có thể sản xuất được những mặt hàng mỹ nghệ cao cấp như vậy, nếu có thì rất có thể do nghệ nhân nước ngoài sản xuất tại Việt Nam, nhưng hầu hết các nhà khoa học trong và ngoài nước đã chúc mừng và cùng tham gia nghiên cứu.
Chúng ta biết rằng, từ thời Lý-Trần, ông cha ta đã tạo tác nên những đồ gốm tuyệt vời thì thời Lê sơ phải tiến bộ hơn. Việc các dân tộc học tập lẫn nhau về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác để phát triển là việc tất yếu của cả nhân loại xưa cũng như nay.
Trước khi phát hiện di tích gốm Chu Đậu thì trong kho nhiều bảo tàng trong nước, trong đó có Bảo tàng Hải Hưng và nhiều bảo tàng lớn trên thế giới từ châu Á sang châu Âu, từ châu Phi sang châu Mỹ đã lưu trữ những đồ gốm đặc biệt này, nhưng chỉ ghi chung là gốm Việt Nam, chưa một bảo tàng nào xác định được địa chỉ nơi sản xuất, nếu có lại gán cho Bát Tràng một cách khiên cưỡng, thực tế đến khi đó ở Bát Tràng chưa tiến hành một cuộc khai quật khảo cổ học nào. Sau khi phát hiện di tích sản xuất, những sưu tập gốm này đã được nâng cao giá trị, nghĩa là chúng đã có nguồn gốc đích thực tạiChuĐậu (ViệtNam). Đặc biệt là sau khi khai quật con tàu đắm ở biển Cù Lao Chàm (QuảngNam) thì diện mạo gốmChuĐậu càng rõ hơn.
Tuy nhiên vẫn có những nhà khoa học băn khoăn rằng, những hiện vật vẽ công bút vô cùng tinh tế đó có phải thợ ViệtNamthực hiện không? Bình gốm hoa lam lưu ở Bảo tàng quốc gia Tokapi Saray tại I-xtan-bun của Thổ Nhĩ Kỳ, vai có 13 chữ Hán: Thái Hòa bát niên,NamSách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút. Cần lưu ý chữ Tháiở đây không có dấu chấm dễ đọc nhầm thành chữ Đại. 13 chữ trên có thể dịch là: Năm Thái Hòa thứ 8 (1450), tại châu Nam Sách, người thợ (gốm) là Bùi Thị Hý vẽ (cũng có thể hiểu là người sáng tạo bình gốm đó), nhưng một số học giả lại dịch là: Năm Thái Hòa thứ 8 (1450), tại châu Nam Sách, có một ông thợ gốm họ Bùi vẽ chơi!Mà không tin rằng đó là tác phẩm của một phụ nữ. Ông họ Bùi này vẽ chơi mà đẹp vậy thì không biết vẽ thật đẹp đến mức nào! Rất không may cho tác giả bình gốm này lại tên là Hý, nếu tên là Huyền chẳng hạn thì không còn phải thảo luận, nhưng khoa học cứ phải như vậy mới đạt đến chân lý.
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn bảo lưu ý kiến rằng, rất có thể có một bà Bùi Thị Hý sáng tạo chiếc bình đó, vì trên đồ gốm thời Mạc và Lê Trung hưng không ít phụ nữ được ghi tên trên đồ gốm với tư cách là tác giả như: Bà Nguyễn Thị Đỉnh-vợ nghệ nhân Đặng Huyền Thông ở Hùng Thắng (Nam Sách), bà Bùi Thị Đỗ, Hoàng Thị Vệ ở Bát Tràng…
Bình gốm có niên đại, địa điểm, tác giảsản xuất là rất hiếm ở ViệtNam, đặc biệt là vô cùng hiếm ở thế kỷ XV. Nếu như tác giả Bùi Thị Hý được giải mã thì chúng ta giải quyết được căn bản lý lịch của bình gốm ở I-xtan-bun và chủ nhân gốmChuĐậu từ thế kỷ XV.
Chúng tôi hy vọng một ngày nào đó tìm ra lý lịch bà Bùi Thị Hý, như đã tìm ra lý lịch của nghệ nhân Đặng Huyền Thông ở thế kỷ XVI, nhưng hy vọng trong trường hợp này quá mong manh, chẳng khác nào mò kim đáy bể. Gần đây, tôi có viết lại quá trình phát hiện gốm Chu Đậu để hiệu đính những bài báo viết không đúng sự thực về sự kiện này và có giới thiệu một lần nữa bình gốm lưu ở bảo tàng quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, kiên trì với nhận định đó là tác phẩm của một phụ nữ tên là Bùi Thị Hý. Vấn đề tưởng như vô vọng, thì ngày 29-5-2006, các anh Bùi Đức Lợi và Bùi Xuân Nhạn mang đến cho tôi xem hai trang gia phả viết trên giấy bản đã ố vàng của dòng họ và một số di vật gốm như: con kê 4 chân liền, con kê hình trụ, ắc bàn xoay, phần cổ của một bình tỳ bà hoa lam sưu tầm ở di tích lò tại làng. Chỉ cần từng ấy thứ cũng đủ biết nó là di tích một lò gốm thời Lê sơ.
Điều đặc biệt là, sau khi đọc gia phả nguyên bản bằng chữ Hán, do lý trưởng Bùi Đức Nhuận, hậu duệ 13 đời, sao y bản chính của họ Bùi, làng Quang Ánh vào năm Bảo Đại Nhâm Thân, tức năm 1932, chúng tôi đã hiểu những nét căn bản về bà Bùi Thị Hý, tác giả chiếc bình hoa lam, sản xuất năm Thái Hòa thứ 8 (1450).
Nguyên nhân là, nhân đọc bài báo về quá trình phát hiện gốm Chu Đậu, đăng trên tạp chí Khoa học và ứng dụng Hải Dương, cách đây chừng một tháng, các anh Bùi Đức Lợi và Bùi Xuân Nhạn đã nhận ra rằng người làm chiếc bình hoa lam ở thế kỷ XV rất có thể là bà cô tổ 15 đời của mình, gia phả có ghi bà là người có tài làm đồ gốm. Các anh đã mang gia phả đến nhờ chúng tôi xác minh.
Chúng tôi đã điền dã tại thôn Quang Ánh, dân gian gọi là Quang Anh, nay đã đổi thành Quang Tiền thuộc xã Đông Quang, huyện Gia Lộc. Tại đây, chúng tôi được đọc cuốn gia phả viết trên vải của họ Bùi vào năm Minh Mệnh Nhâm Thìn (1832), tư liệu trùng hợp với cuốn viết trên giấy bản. Bên chùa Viên Quang, ở phía bắc làng, gần sông Định Đào, có dấu vết của lò gốm. Qua nghiên cứu thấy rằng, cuốn gia phả viết trên giấy bản năm Bảo Đại Nhâm Thân (1932) là cuốn sao bản viết năm Minh Mệnh Nhâm Thìn (1832), nghĩa là sau tròn 100 năm. Dưới đây chúng tôi xin tóm tắt nội dung gia phả họ Bùi ở Quang Ánh và tiểu sử bà Bùi Thị Hý qua 2 cuốn gia phả nói trên:
Thủy tổ là cụ Bùi Đình Nghĩa, con tướng quân Bùi Quốc (một trong 18 vị dự hội thề Lũng Nhai năm 1418), sinh năm Xương Phù 11 (1387), nguyên quán làng Cống Khê, huyện Chương Đức, tỉnh Sơn Tây (nay là thôn Cống Thượng, xã Hồng Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây). Năm Hưng Khánh thứ nhất (1407), để tránh giặc Minh, cụ Nghĩa di cư về trang Quang Ánh (nay là thôn Quang Tiền, xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương). Tại đây cụ sinh 2 người con. Con thứ nhất là Bùi Thị Hý, sinh năm Canh Tý (1420); con thứ hai là Bùi Đình Khởi, sinh năm Quý Mão (1423). Cụ Nghĩa là người có chí lớn, dũng cảm và mưu lược nổi tiếng đương thời, tham gia nghĩa quân Lam Sơn, hy sinh trong một trận hỗn chiến tại thành Đông Quan, sau chiến thắng giặc Minh, được Lê Lợi ban 55 mẫu lộc điền. Cụ trở thành thủy tổ của dòng họ Bùi trang Quang Ánh.
Người con gái trưởng của cụ là một phụ nữ tài năng, văn hay, chữ tốt, lại có biệt tài về họa. Bà đã giả trai thi đến tam trường, khi phát giác bị đuổi khỏi trường thi. Bà lấy ông Đặng Sĩ, một đại gia về đồ gốm ở làng Chu Nhẫm, tức Chu Đậu, huyện Thanh Lâm, châuNamSách. Bà là thợ có biệt tài làm bình gốm. Năm Thái Hòa thứ 10 (1452), bà cùng chồng về Quang Ánh giúp em trai dựng lò gốm, ở phía bắc trang, nơi gần sông Định Hòa, giao thương với Chu Đậu, làm đặc sản gốm sứ cống Hoàng triều và xuất cho thương nhân các nước như Bắc Quốc, Nhật Quốc, và phương Tây. Từ đó họ Bùi Quang Ánh giàu mạnh không ngừng qua từng năm. Bà Hý không có con nên cuối đời về quê cha và mất tại đây vào ngày 12 tháng 8 năm Kỷ Mùi (1499) thọ 80 tuổi, Đến khi đất nước đại loạn (chiến tranh Trịnh-Mạc cuối thế kỷ XVI), làng mạc bị tàn phá, con cháu thất tán, không sản xuất được, phải cải họ đến 3-4 đời.
Vào thời kỳ đại loạn (cuối thế kỷ XVI), Trịnh Tùng hủy diệt vùng Nam Sách từ đầu năm 1593 khi tấn công nhà Mạc, từ đó nghề vinh của dòng họ này thất truyền. Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: " Nhâm Thìn, năm Quang Hưng thứ 15, tháng 12, ngày3-1-1593... Bấy giờ Phủ tiết chế chi quân cả phá bọn Mạc Kính Chỉ ở xã Tân Mỹ, huyện Thanh Hà, chém được đầu giặc và 50 chiếc thuyền, cùng ngựa và khí giới nhiều không kể xiết. Các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn bị tiêu hủy gần hết".
Những sự kiện trên hoàn toàn phù hợp với lịch sử và những gì đã nghiên cứu về gốmChuĐậu. Điều đương nhiên là bình gốm hoa lam, cao 54cm, sản xuất năm Thái Hòa thứ tám (1450) lưu ở Thổ Nhĩ Kỳ là tác phẩm của bà, hơn thế còn là bút tích của nghệ nhân ở tuổi 31. Từ tư liệu này, theo hiểu biết hiện nay, có thể gọi cụ Đặng Sĩ và Bùi Thị Hý là những vị tổ của làng gốm mỹ nghệChuĐậu.
Sự kiện này đã khẳng định gốmChuĐậu trước hết là do người địa phương sản xuất, trong đó có vai trò của phụ nữ, mà điển hình là Bùi Thị Hý. Từ nay lịch sử ViệtNamcó thêm một phụ nữ tài năng xuất chúng, từng giả trai đi thi đến tam trường và là một nghệ nhân đồ gốm xuất sắc của ViệtNamở thế kỷ XV. Vậy ở cuối thế kỷ XVI, có một bà Nguyễn Thị Duệ giả trai đi thi tiến sĩ ở Cao Bằng là điều không có gì lạ. Gia phả này còn cung cấp một thông tin về tướng quân Bùi Đình Nghĩa, người chiến đấu dũng cảm và hy sinh tại thành Đông Quan.
Trên đây là một phát hiện quan trọng không chỉ về gốm Chu Đậu mà còn của lịch sử gốm sứ Việt Nam và những vấn đề có liên quan của lịch sử dân tộc, trong đó có thủ công nghiệp và ngoại thương ở thế kỷ XV-XVI. Tư liệu này trùng hợp với kết quả điền dã và những gì chúng ta đã biết về trung tâm gốm mỹ nghệ đặc biệt này. Về văn bản học cũng khá minh xác, vấn đề còn lại là cần nghiên cứu kỹ hơn, kể cả khai quật để phát hiện những tư liệu có liên quan, đồng thời đảm bảo sự chân thực và phong phú của lịch sử một dòng gốm đẹp của ViệtNamcũng như của thế giới ở thế kỷ XV-XVI. Hy vọng sẽ có những tư liệu có giá trị được phát hiện xung quanh sự kiện này.
Nguồn: quandoinhandan.org.vn,15/07/2006








