Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 04/07/2007 23:10 (GMT+7)

Phải chăng có một nền văn hóa Huế?

... Nhưng sau khi được giao thêm làm trấn thủ Quảng Nam năm 1568, và nhất là khi trở lại Thuận Quảng năm 1600, thì ông mới có ý định xây dựng một cơ đồ riêng. Thành công của Nguyễn Hoàng đã được chính các sử gia của nhà Lê (tức là viết theo quan điểm của chúa Trịnh) xác nhận: “Hoàng trị nhậm mấy chục năm, chính lệnh khoan hòa, thường ban ân huệ, dùng phép công bằng, khuyên răn bản bộ, cấm trấp những kẻ hung ác; dân hai trấn đều cảm lòng mến đức, thay đổi phong tục, chợ không nói thách, dân không trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến buôn bán, đổi trao phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, mọi người ra sức” ( Đại Việt sử ký toàn thư).

Trong thời gian đầu, Nguyễn Hoàng và những người kế vị vẫn còn phải lo đối phó với áp lực của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, nên phải đặt đại bản doanh ở Ái Tử thuộc tỉnh Quảng Trị ngày nay. Nhưng từ năm 1636, khi cuộc chiến giữa hai miền nam bắc dần dần lắng dịu, thì các chúa Nguyễn mới chuyển lỵ sở xa về phía nam, và đã chọn mảnh đất hai bên bờ sông Hương làm nơi định đô. Từ lúc đó, diện mạo của Huế mới bắt đầu thay đổi.

Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng đã có ý đồ xây dựng phía nam thành hậu phương cho công cuộc cát cứ lâu dài. Năm 1602, sau chuyến đi thăm phía nam đèo Hải Vân đến Quảng Nam, Chúa đã ghi nhận rằng ở đây “đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, số thuế nộp vào nhiều hơn Thuận Hóa mà số quân thì cũng bằng quá nửa” (Đại Nam thực lục). Rồi năm 1611 đã đẩy ranh giới đến tận đèo Đại Lãnh với việc thành lập tỉnh Phú Yên. Như vậy là từ một tỉnh cực nam của đất nước, Huế đã trở thành vị trí đầu cầu cho công cuộc Nam tiến mà các chúa Nguyễn sẽ thực hiện trong suốt hai thế kỷ. Đấy là nơi mà các chúa Nguyễn tìm thấy một chân trời mới mở ra nhiều sự chọn lựa hơn “một thế giới khác vẫy gọi, một thế giới chưa định hình đã được an bài trở thành nơi người Việt Nam tìm thấy sự giải thoát khỏi những đòi hỏi truyền thống, nơi […] được mô tả như một miền duyên hải thiên đường của hòa bình, phồn vinh và những thương nhân ngoại quốc”(1).

Nhưng tại sao các chúa Nguyễn lại không chọn đất Quảng làm nơi đặt lỵ sở, khi ngay từ đầu Nguyễn Hoàng đã nhìn thấy vị trí thuận lợi và giàu có của miền đất này và đã cho người con trưởng là Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn nhậm và kinh dinh. Trái lại các chúa đã chọn đất Phú Xuân - Huế, một vùng chật hẹp, khí hậu khắc nghiệt hơn miền đất bên kia đèo Hải Vân. Cho nên trong lịch sử đã có những chuyện tình cờ, hoặc do hoàn cảnh, hoặc do thói quen, hay do những ràng buộc khác, khiến cho sự lựa chọn đôi khi không phải lúc nào cũng duy lý. Nhưng có một điều thấy rõ, là dù chưa được khai phá, nhưng Huế lúc đó vẫn có “sông không sâu, núi không cao”, cảnh vật hiền hòa với những cánh đồng hẹp êm đềm, không quá gần biển (mà thời đó với khả năng phòng thủ của ta sống sát ven biển vẫn tiềm tàng nhiều hiểm họa), nhưng cũng không quá xa (để có thể mở cảng sông ở Thanh Hà - Phố Lở), đáng làm nơi tụ hội. Chính vì vậy mà sau mấy thế kỷ khai thác, Huế đã mang một diện mạo mới, trở thành một trung tâm chính trị - văn hóa của Đàng Trong.

Vậy đặc điểm của vùng văn hóa mới hình thành này là gì? Có thể điểm qua những nét riêng sau đây.

Đến miền nam, các chúa Nguyễn phải đương đầu với một sự lựa chọn không nằm trong truyền thống chính trị cũ của người Việt. Cuộc gặp gỡ với thế giới rộng lớn vùng Đông Nam Á đã đem lại cho người Đàng Trong bài học kinh nghiệm mới về sự tự do. Năm 1627 khi bùng nổ cuộc chiến giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn thì họ Nguyễn ở vào thế yếu kém hơn nhiều. Họ Trịnh đã thừa kế được một thể chế vững chắc, cai trị một vùng đất rộng hơn phía nam đến ba bốn lần, trong khi đó họ Nguyễn bị đẩy đến một vùng đất mới, có nhiều cư dân bản địa mang tập quán và tín ngưỡng khác, không dễ gì mà thần phục. Vậy mà các chúa Nguyễn không những đã đánh bại 7 cuộc tấn công của chúa Trịnh, mà còn mở rộng biên giới xuống phương nam kiểm soát được trên ba phần năm lãnh thổ chỉ trong vòng 200 năm.

Điều đó cho thấy mô hình Khổng giáo mà nhà Lê đã thiết lập từ thế kỷ XV, với đường lối “trọng nông ức thương” đã đưa xã hội Đàng Ngoài đi vào con đường bế tắc không thể đối phó được với sự tăng dân số và thiên tai, khiến cho từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII nông dân phải lưu tán gây nên tình trạng không ổn định. Trong khi đó ở Đàng Trong, người Việt đi theo họ Nguyễn được tự do đi lại giữa vùng đất mới, giữa những tộc người bản địa thưa thớt, trên một vùng biên giới mở và co dãn. Có thể nói trên vùng đất mới này đã có một xã hội mới phát triển, với một bối cảnh văn hóa khác, trong những điều kiện chính trị và kinh tế hoàn toàn khác (2).

Trong khi ở Đàng Ngoài chế độ thi cử đã thành nền nếp để đào tạo tầng lớp nho sĩ quan liêu, thì ở Đàng Trong việc tuyển dụng nhân tài không bị câu nệ theo công thức cũ, một người thuộc dòng dõi “xướng ca vô loài”, không đỗ đạt gì như Đào Duy Từ mà vẫn được chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên tin dùng làm nội tán, trở thành một công thần lớn trong việc xây dựng sự nghiệp ở phương nam. Trong bối cảnh mới, các chúa Nguyễn trở nên cởi mở hơn, ít bị câu nệ vì ý thức hệ Khổng giáo, không có thái độ kỳ thị đối với các tôn giáo khác như giới nho sĩ miền bắc. Có lẽ sự tiếp xúc gần gũi hơn với những quốc gia Ấn Độ hóa theo Phật giáo Theravada - lập các vị vua đồng nhất với thần - đã khiến cho các chúa Nguyễn muốn quay trở lại truyền thống dân tộc đã có từ thời Lý, lấy Phật giáo làm chỗ dựa cho việc xây dựng vương triều. Thậm chí, vị chúa đời thứ sáu là Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) đã tự xưng là đệ tử đời thứ 30 của Thiền phái Lâm Tế. Năm 1749 nhà du hành người Pháp Pierre Poivre đã ghi nhận rằng xung quanh kinh đô Đàng Trong có tới gần 400 chùa thờ Phật, và nếu ở xa thì còn nhiều hơn (3).

Dấu ấn Phật giáo đã in đậm trong cảnh quan Huế ngày nay để trở thành một thành phố của chùa chiền. Các ngôi chùa lớn nhỏ không những nằm trên các sườn đồi phía tây thành phố, mà còn xen lẫn trong các khu dân cư ven bờ sông Hương, hoặc náu mình dưới những tán cây cổ thụ rợp bóng, đem lại cho Huế một dáng vẻ êm đềm trầm mặc. Không những thế, Phật giáo còn hằn sâu trong tâm thức người Huế. Hầu hết các phong trào Phật giáo thời hiện đại đều xuất phát từ Huế. Ví như phong trào chấn hưng Phật giáo những năm 40 của thế kỷ trước kéo theo việc đưa Phật giáo vào đời sống của mọi người dân với các đội Phật tử tổ chức theo kiểu Hướng đạo sinh của phương Tây, lập nên những gia đình Phật tử tồn tại đến tận ngày nay; phong trào nổi dậy của Phật tử chống chính quyền Sài Gòn và sự can thiệp của Mỹ những năm 1962-1963, đưa đến sự sụp đổ của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. ý thức hệ Phật giáo còn thể hiện trong nhiều tập quán của người Huế, trước hết là trong việc kiêng kỵ một số món ăn: phần lớn người Huế đều kiêng ăn các chép (cá gáy) vì theo một Phật thoại thì cá chép thường đến dưới chân Phật nghe giảng kinh để sau này hóa thành rồng. Còn đối với thịt chó, thì trong khi từ miền bắc nó đã lan đến khắp các thành phố khác ở miền nam, thì chỉ riêng Huế là nơi mà thịt chó không có chỗ đứng. Đó cũng là một phản ứng của những người sùng tín Phật giáo, không muốn ăn thịt một con vật trung thành và hơn nữa thịt của nó còn mang tính uế tạp.

Một trong những tinh thần cơ bản của Phật giáo là khoan dung. Khi Khổng giáo được nhà Lê chấp nhận làm ý thức hệ chính thống từ thế kỷ XV, thì các nhà nho không ngừng bài xích các tín ngưỡng dân gian, coi đó là mê tín dị đoan, đi ngược với tinh thần của đạo Khổng. Trong khi đó, đến miền nam, tiếp xúc với nhiều tín ngưỡng bản địa, giới cầm quyền người Việt đã có một thái độ ứng xử rộng mở hơn đối với các tín ngưỡng ngoại lai. Biểu hiện đầu tiên là việc tiếp nhận nữ thần Chăm Po Nagar để biến hình thành nữ thần Thiên Y Ana, mà người đầu tiên là Nguyễn Hoàng năm 1600 đã dựng nên truyền thuyết về vị nữ thần từ trên trời xuống báo mộng, để đặt tên ngôi chùa - có lẽ xây trên nền cũ của một ngôi đền Chăm - là Thiên Mụ (người phụ nữ trên trời xuống). Cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều đền thờ nữ thần Chăm được Việt hóa nằm rải rác trong khu vực quanh thành phố Huế, mà linh mục Cadière đã từng thống kê, trong đó nổi tiếng nhất là điện Hòn Chén (tức điện Huệ Nam) nằm ở phía tây thành phố. Phật giáo ở Huế mang tính tổng hòa đáp ứng được nhiều yêu cầu của các tầng lớp dân chúng, trong đó không thể không nói đến những cư dân bản địa đã dần dần được Việt hóa.

Cũng theo dòng tư tưởng đó, nhiều đối tượng thờ cúng trong dân dã đã được dung nạp như tục thờ đá, thờ cây cổ thụ, thờ cá sấu, thờ cọp… (4). Đến Huế, ta có thể bắt gặp ở bất cứ góc vườn nào, ở bất cứ góc phố nào, hay trên các nẻo đường làng quanh thành phố, một cái am nhỏ, hay một cái miếu con, cho đến một ban thờ đặt trên trụ gạch hay cột tre, để thờ một vị thần hay một cô hồn nào đó. Những nơi thờ tự đó không bao giờ thiếu vắng hương khói vào ngày rằm và mồng một.

Thái độ ứng xử đó còn khiến cho người Huế luôn cảm thấy mình gần gũi với thiên nhiên, họ coi cuộc sống của mình gắn liền với đời sống của cây cỏ, của núi sông. Thậm chí, người ta còn nghĩ rằng cây lá cũng có thể đau đớn khi bị con người đối xử tàn nhẫn. Có một tập tục đến nay vẫn được duy trì là khi nhà có tang, người ta cũng buộc những dải băng tang trên các cành cây trong vườn, coi cây cỏ cũng có thể buồn vui cùng chủ nhân ngôi nhà. Chính vì vậy mà Huế trở nên một thành phố hòa mình vào thiên nhiên, một thành phố mà những ngọn đồi, những dòng sông, những tán cây, đều được mọi người dân quan tâm gìn giữ, coi như một phần cuộc sống của mình. Sự quan tâm của người dân đối với thiên nhiên đã khiến cho người Huế ngày nay rất nhậy cảm với những vấn đề môi trường như gìn giữ cảnh quan hai bên bờ sông Hương mà những dự án gần đây trên đồi Vọng Cảnh đã làm cho người dân Huế rất bất bình.

Trong những người đầu tiên đi theo chúa Nguyễn vào nam, trừ một số ít quân tướng bản bộ ở các tỉnh lưu vực sông Hồng, còn lại phần lớn là những người từ Thanh Nghệ trở vào, mà sau này trở thành những dòng họ khai quốc. Đặc biệt trong những lần tấn công ra Bắc hà, chúa Nguyễn còn bắt theo nhiều cư dân Nghệ Tĩnh về nam. Cho nên không lấy làm lạ rằng người Huế còn giữ nhiều tập quán của người Thanh Nghệ cổ, với nhiều điểm gần gũi với người Mường, để sau này được cố định thành những nét riêng của xứ Huế, mà một nhà dân tộc học Huế đã gọi là hiện tượng “đóng băng ở ngoại biên” (5). Cuộc sống nơi đầu sóng ngọn gió đã khiến cho chúa tôi họ Nguyễn trở nên bộc trực hơn, gần gũi nhau hơn, bỏ đi nhiều lối đối xử kiểu cách mang tính “triều đình” của người miền bắc. Một nho sĩ Trung Hoa đến Đàng Trong từ năm 1657 đã ghi lại rằng chúa Nguyễn khi lâm triều thường xưng hô với đình thần bằng “mi tau” (tức là mày tao) (6). Ngày nay, cách ăn nói của người Huế vẫn còn lưu lại nhiều ảnh hưởng của những thời kỳ xa xưa, đó là một lối nói không phải chỉ khác ở thanh điệu mà còn sử dụng nhiều từ cổ địa phương, đưa nhiều câu tục ngữ vào ngôn ngữ thường ngày, khiến cho tiếng Huế vừa mang tính kiểu cách của chốn cung đình, lại vừa mang tính dân gian của những con người bình dị.

Nhưng vì được chọn làm nơi định đô của các chúa, rồi từ thế kỷ XIX lại trở thành kinh đô của cả nước - nếu không kể một thời gian ngắn lại là kinh đô của nhà Nguyễn Tây Sơn - nên Huế không tránh khỏi là một nơi được hưởng nhiều đặc ân của triều đình. Đất đai tỉnh Thừa Thiên phần lớn là đất phân phong cho những ông hoàng bà chúa triều Nguyễn, người dân làm sai dịch cho các gia đình quí tộc được miễn nhiều khoản đóng góp và tạp dịch khác, con cháu của họ dù không được học hành cũng có thể dễ dàng kiếm được một chân nha lại nơi cửa quan. Còn mọi thứ đóng góp cho triều đình thì đã có các tỉnh khác lo: “Hết gạo đã có Đồng Nai, hết củi thì có Tân Sài chở vô” (Tân Sài ở Quảng Trị). Điều đó cho thấy sự ỷ lại của Huế trong sản xuất, triều đình không nghĩ đến chuyện tận thu trên mảnh đất nhỏ hẹp này. Có lẽ vì vậy mà người nông dân Thừa Thiên gắn bó chặt chẽ với làng xã, gắn bó với chế độ ruộng công, mãn nguyện với những đặc quyền mà họ được hưởng trên mảnh đất quê hương. Tính cộng đồng cao của cư dân Huế còn thể hiện ở việc gìn giữ ruộng đất công cho đến tận thời hiện đại. Trong khi tỉ lệ ruộng công ở các tỉnh miền Trung thời thuộc Pháp là 25%, so với miền Bắc chỉ còn 24%, thì ở Thừa Thiên lại lên đến 56% (tỉnh có tỉ lệ ruộng công cao nhất ở miền Bắc là Thái Bình cũng chỉ có 35%). Trong sự phát triển thường đưa đến mâu thuẫn giữa tăng trưởng nhanh với công bằng xã hội. Phải chăng Huế đã quá nhấn mạnh đến công bằng xã hội để làm cho tăng trưởng bị chậm lại? (7). Theo GS Đào Thế Tuấn thì “xu hướng này đã ảnh hưởng mạnh đến tình hình xã hội nông thôn hiện nay của Huế. Vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước, trong khi các tỉnh phía nam rất khó tiếp thu mô hình hợp tác hóa của miền bắc, thì nông dân Huế rất dễ dàng chấp nhận. Nhưng đến khi chuyển đổi sang mô hình sản xuất theo kinh tế thị trường của thời kỳ Đổi mới thì Huế lại gặp rất nhiều khó khăn. Điều này đã kìm hãm tốc độ đổi mới của Huế không ít”. Phải chăng đó là một nét biểu hiện của văn hóa Huế?

Nếu trong thời kỳ còn bị chia cắt, các chúa Nguyễn và Huế là đại diện cho một xu thế phát triển mới, năng động hơn và cởi mở hơn, thì sau khi thống nhất đất nước đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn lại phải chịu áp lực xu hướng bảo thủ của các nho sĩ Bắc hà, quay trở lại đề cao Khổng giáo, điển hình là việc hàng tháng bắt dân nghe “giảng thập điều” từ triều Minh Mạng, khiến ngay dân chúng Bắc hà cũng phải phản ứng (8). Xu hướng bảo thủ đó càng thêm trầm trọng trước họa xâm lăng của thực dân Pháp, đưa triều đình đến chỗ quay lưng lại với mọi đề nghị cải cách. Tính bảo thủ đó của triều đình nhà Nguyễn hẳn đã in dấu lên văn hóa của người dân xứ Huế. Sống trong một không gian chật hẹp, ở một vùng đất được coi như “quan nhiều hơn dân”, người Huế buộc phải co mình lại, giữ một thái độ bàng quan, ít khi bộc lộ ý nghĩ của mình, hoặc phải nói ngược lại những điều mình suy nghĩ. Đó là tính cách hay “giả đò” của người dân Huế. Nhưng với bề ngoài chịu đựng, người Huế vẫn nung nấu một tinh thần đấu tranh rất mãnh liệt. Cho nên không lấy làm lạ rằng nhiều phong trào chống đối trong lịch sử hiện đại lại xuất phát đầu tiên ở Huế, đây là nơi ra đời tổ chức đầu tiên của phụ nữ Việt Nam năm 1926 (Nữ công học hội), cũng là nơi phát hành một trong hai tờ báo đầu tiên của phụ nữ là Phụ nữ tùng san, cùng thời với Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn năm 1929 (9), rồi trong thời kỳ chống Mỹ, Huế cũng là nơi có phong trào đấu tranh sục sôi nhất lôi kéo đủ mọi tầng lớp xã hội, từ thanh niên học sinh trí thức, cho đến người buôn bán ở chợ và các tầng lớp lao động khác.

Dù muốn hay không, hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội cũng như truyền thống, đã tạo cho người Huế một lối sống và cách suy nghĩ riêng, trong đó có những nghịch lý và những mâu thuẫn, nhưng vẫn luôn tồn tại bên nhau. Đó là đặc trưng của văn hóa  Huế

_________________

1. Keith Taylor, Nguyễn Hoàng vàbước mở đầu cuộc Nam tiến của người Việt (1993), Những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, 2001.
2, 8. Li Tana, Xứ Đàng Trong thế kỷ XVII và XVIII (1998), Những vấn đề… sđd.
3. Pierre Poivre, Nhật ký hành trình… từ tháng 8-1749 đến 2-1750, dẫn theo Li Tana, sđd.
4. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Nxb KHXH, 1990.
5. Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, 2003.
6. Chu Thuấn Thủy, Ký sự đến Việt Nam năm 1657, Hội KHLSVN, 1999.
7. Đào Thế Tuấn, Nghịch lý và mâu thuẫn của văn hóa Huế, Xưa & Nay, số 64, tháng 6-1999.
9. David Marr, Vietnamese Tradition on Trial 1920-1945, California , 1984.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.