Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 04/11/2006 15:12 (GMT+7)

Ô nhiễm môi trường làng nghề: Không thể chỉ dừng ở kêu gọi ý thức

Những vùng đất “chết”

Làng sản xuất giấy Phong Khê (Yên Phong - Bắc Ninh) từ lâu đã trở thành “bãi rác” khổng lồ. Nhưng đống phế liệu cao ngất, những con mương đỏ quạch hoặc đen ngòm và bầu không khí luôn bị bao phủ bởi bụi giấy và khói than. Toàn xã hiện có hơn 90 hộ sản xuất các loại giấy với khoảng 100 dây chuyền, trung bình mỗi ngày đốt hết 40.000 tấn than. Do cộng hưởng giữa bụi, giấy và khói than nên không khí ở đây bị ô nhiễm nghiêm trọng. Chưa kể các loại hoá chất như phèn, nhựa thông, phẩm màu thải trực tiếp ra mương, máng khiến một cánh đồng phải bỏ hoang. Hàm lượng BOD (nhu cầu ôxy sinh hoá) trong nước thải tại Phong Khê vượt tiêu chuẩn cho phép tới 5 lần, COD (nhu cầu ôxy hoá học) vượt chuẩn cho phép 3 lần. Có đến 30% dân số trong xã mắc các bệnh da liễu, hô hấp, đường ruột...

Làng nghề sơn mài Hạ Thái, xã Duyên Thái (Thường Tín - Hà Tây) có đến 80% số trẻ sơ sinh bị viêm phế quản do nhiễm độc sơn và dầu. Nồng độ hơi xăng và dung môi hữu cơ đo được tại một xưởng sản xuất cao hơn 1-15 lần quy định trong Tiêu chuẩn Việt Nam . Trong thành phần của các dung môi pha sơn bị phát tán ra không khí đều có ôxit sắt, crôm, kẽm, chì,... Những chất này tích dụ dần trong cơ thể sẽ gây ung thư, giảm trí nhớ, thị lực, các bệnh liên quan đến đường hô hấp...

Làng nghề đúc chì Đông Mai, xã Chỉ Đạo (Văn Lâm - Hưng Yên) cũng là một trong nhiều điểm “nóng” về ô nhiễm môi trường. Hàng trăm lò nấu chí ngày đêm nhả hàng triệu hạt bụi độc hại vào môi trường. Qua khảo sát, hàm lượng chì trong không khí ở thôn Đông Mai vượt 300 lần tiêu chuẩn cho phép, trong nước vượt 20 lần. 60% người dân mắc các bệnh lao, dạ dày, nhiễm độc máu; nhiều trẻ em bị thiểu năng trí tuệ hoặc dị dạng...

Nguy cơ tiềm tàng nhưng người dân lại chưa có ý thức bảo vệ môi trường. Nghề sừng ở Thụy Ứng, xã Hoà Bình (Thường Tín - Hà Tây) giúp nhiều gia đình khá giả. Nhà nào cũng khang trang, đầy đủ tiện nghi nhưng ra ngoài ngõ là bụi và rác. Xã thu tiền thu gom, xử lý rác thải rất khó khăn. Tại làng nấu rượu Vân Hà, làng giết mổ gia súc Phúc Lâm (Bắc Giang), nước thải không qua xử lý được các hộ “vô tư” xả thẳng vào hệ thống thuỷ nông, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.

Những thí dụ như trên còn có thể liệt kê dài dài.

Luật môi trường mới chưa vào cuộc sống?

Trong các cơ sở công nghiệp dệt may, giấy và bột giấy... nước thải thường có độ pH trung bình 9-11, chỉ số BOD và COD có thể lên đến 700mg/l và 2.500mg/l. Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần cho phép. Các chất độc hại trong nước thải của các ngành công nghiệp hoá chất, phân bón, khai thác chế biến khoáng sản,... vượt đến 84 lần, H 2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH 3vượt 84 lần. Nếu theo luật môi trường, nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất phải đóng cửa từ lâu. Tại Thái Nguyên, về mùa khô hạn, nước thải từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than... chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu, có độ pH 8,4-9; hàm lượng NH 3là 4mg/l, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu. Khu gang thép Thái Nguyên đang giải quyết công ăn việc làm cho gần 14.000 lao động, việc đóng cửa một nhà máy có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Theo ông Trần Hồng Hà, Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), cứ 4 đơn vị sản xuất thì có một cơ sở vi phạm Luật môi trường. Nhưng từ khi Luật môi trường ra đời (năm 1993), chưa có phiên toà nào xét xử về xâm phạm môi trường; việc xử lý vi phạm mới chỉ dừng lại ở mức độ xử lý hành chính. Thanh tra môi trường phân tích, kết luận mức độ ô nhiễm do các đơn vị, xí nghiệp gây ra... rồi “để đấy”.

Những tín hiệu vui

Sự kiện anh Trịnh Minh Quân - một chủ lò có tiếng trong làng Đông Mai khẳng định làng sẽ hết ô nhiễm bằng lò nấu chì sạch khiến người ta hy vọng sẽ có một bầu không khí trong lành hơn cho mảnh đất “tử thần” này. Nhìn bề ngoài, lò mới không khác gì nhiều so với lò cũ ngoài kích cỡ của thân lò rộng hơn 4m 2và ống khói cao hơn 10m. Tuy nhiên, đối với lò cũ, khi chì được nung với nhiệt độ cao, hàng triệu bụi chì theo ống khói thoát ra ngoài lan toả trong không khí. Lò nấu chì sạch khắc phục được nhược điểm này: bụi chì không thoát ra ngoài mà được giữ lại trong ống khói, chỉ 5% thoát ra ngoài. Theo đó, cứ 10 tấn nguyên liệu lại giữ được nửa tấn chì mà lò cũ gây “lãng phí”. Giá thành chỉ khoảng 100 triệu đồng. Đến nay, làng Đông Mai đã “phổ cập” lò nấu chì sạch của anh Quân, bầu không khí trong lành hơn, sức khoẻ người dân được cải thiện đáng kể.

Mới đây, khoa Hóa học, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) cũng vừa chế tạo thành công thiết bị xử lý nước thải đa năng chuyên dùng cho các làng nghề. Thiết bị này thực chất là sử dụng các chất keo tụ, trợ keo tụ, các chất hấp thụ để tiến hành xử lý sơ cấp nhằm loại bỏ các chất lơ lửng, cặn, bụi... xuống còn 50%. Sau đó, hệ thống tiếp tục hoạt động để xử lý bằng bùn hoạt tính hoặc lọc sinh học, bước này có thể giảm được 30% lượng chất độc hại trong nước; tiếp theo nước thải sẽ được xử lý bằng AOB (ôxy hoá tăng cường), biện pháp này cho phép loại bỏ tới 90% các hợp chất độc hại. Hiện hệ thống này được lắp đặt và vận hành ở làng nghề dệt Vạn Phúc (Hà Đông – Hà Tây) và cho kết quả khả quan. Những người thực hiện đề tài hy vọng từ nay đến năm 2010, thiết bị này sẽ được lắp đặt cho hầu hết làng nghề trên toàn quốc.

Từ thực tế ở làng Đông Mai với lò nấu chì sạch hay làng gốm Bát Tràng với lò nung bằng gas, có thể thấy đầu tư một thiết bị tiên tiến để hạn chế ô nhiễm môi trường không khó. Cái chính là ý thức người dân trong việc bảo vệ môi trường và sự quan tâm của các cấp chính quyền đến đâu. Vẫn biết, giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường cần phải nâng cao ý thức của người sản xuất; đưa các giải pháp mới, kinh nghiệm tốt để xử lý chất thải; quy hoạch làng nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường; quy hoạch khu dân cư; các chính sách hỗ trợ;... nhưng thực hiện thế nào và đến đâu lại là cả một vấn đề lớn. Đến nay, nhiều khu, cụm công nghiệp tập trung vẫn không thể kêu gọi được các làng nghề vào sản xuất vì chi phí mặt bằng, nhà xưởng... quá cao nên người dân vẫn phải sống chung với ồn ào, bụi bặm. Đã đến lúc giải quyết ô nhiễm môi trường làng nghề không thể dừng lại ở những lời kêu gọi.

TS Trần Hồng Hà- Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường:

Để phát triển làng nghề bền vững, Nhà nước cần ban hành đầy đủ các quy định, chế tài bằng cách thông qua phạt hành chính, cảnh cáo hoặc cho ngừng sản xuất để đưa hoạt động sản xuất của người dân làng nghề vào khuôn khổ. Đồng thời, Bộ Công nghiệp kết hợp với chính quyền địa phương phân ra các loại hình làng nghề: tiểu thủ công truyền thống không hoặc ít gây ô nhiễm và công nghiệp lạc hậu làm hại môi trường. Nếu gây ô nhiễm thì phải tách khỏi khu dân cư hoặc xây dựng cụm công nghiệp làng nghề để tập hợp lại. Nhà nước sẽ dùng biện pháp cứng rắn buộc các cơ sở, hộ sản xuất gây ảnh hưởng tới môi trường vào cụm công nghiệp làng nghề. Công tác tuyên truyền nâng cao hiểu biết cần chú trọng hơn nữa để cung cấp hoặc hỗ trợ người dân làng nghề tiếp xúc với các mô hình công nghệ tiên tiến, phù hợp để nâng cao năng suất và giảm ô nhiễm thông qua các hoạt động hỗ trợ, cho vay vốn để người dân đổi mới công nghệ, khắc phục ô nhiễm môi trường.

- Theo kết quả khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại 83 cơ sở làng nghề, có tới 53 cơ sở vợt mức nhiệt độ tiêu chuẩn, 57 cơ sở có nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn. Tỷ lệ bệnh tật chung ở các làng nghề là 13-54%, trong khi tại các xã thuần nông tỷ lệ này là 11%.

- Mục tiêu đến năm 2007 sẽ tập trung xử lý triệt để 439 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng.

- Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường ở nước ta còn thấp (0,1% GDP), trong khi một số nước ASEAN, tỷ lệ này là 1%.

- Nước ta có trung bình 3 cán bộ quản lý môi trường/triệu dân, một số nước ASEAN, trung bình 70 cán bộ/triệu dân.

Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 40 (474), 3/10/2005, tr 3

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.