Ô nhiễm môi trường làng nghề: Không thể chỉ dừng ở kêu gọi ý thức
Những vùng đất “chết”
Làng sản xuất giấy Phong Khê (Yên Phong - Bắc Ninh) từ lâu đã trở thành “bãi rác” khổng lồ. Nhưng đống phế liệu cao ngất, những con mương đỏ quạch hoặc đen ngòm và bầu không khí luôn bị bao phủ bởi bụi giấy và khói than. Toàn xã hiện có hơn 90 hộ sản xuất các loại giấy với khoảng 100 dây chuyền, trung bình mỗi ngày đốt hết 40.000 tấn than. Do cộng hưởng giữa bụi, giấy và khói than nên không khí ở đây bị ô nhiễm nghiêm trọng. Chưa kể các loại hoá chất như phèn, nhựa thông, phẩm màu thải trực tiếp ra mương, máng khiến một cánh đồng phải bỏ hoang. Hàm lượng BOD (nhu cầu ôxy sinh hoá) trong nước thải tại Phong Khê vượt tiêu chuẩn cho phép tới 5 lần, COD (nhu cầu ôxy hoá học) vượt chuẩn cho phép 3 lần. Có đến 30% dân số trong xã mắc các bệnh da liễu, hô hấp, đường ruột...
Làng nghề sơn mài Hạ Thái, xã Duyên Thái (Thường Tín - Hà Tây) có đến 80% số trẻ sơ sinh bị viêm phế quản do nhiễm độc sơn và dầu. Nồng độ hơi xăng và dung môi hữu cơ đo được tại một xưởng sản xuất cao hơn 1-15 lần quy định trong Tiêu chuẩn Việt Nam . Trong thành phần của các dung môi pha sơn bị phát tán ra không khí đều có ôxit sắt, crôm, kẽm, chì,... Những chất này tích dụ dần trong cơ thể sẽ gây ung thư, giảm trí nhớ, thị lực, các bệnh liên quan đến đường hô hấp...
Làng nghề đúc chì Đông Mai, xã Chỉ Đạo (Văn Lâm - Hưng Yên) cũng là một trong nhiều điểm “nóng” về ô nhiễm môi trường. Hàng trăm lò nấu chí ngày đêm nhả hàng triệu hạt bụi độc hại vào môi trường. Qua khảo sát, hàm lượng chì trong không khí ở thôn Đông Mai vượt 300 lần tiêu chuẩn cho phép, trong nước vượt 20 lần. 60% người dân mắc các bệnh lao, dạ dày, nhiễm độc máu; nhiều trẻ em bị thiểu năng trí tuệ hoặc dị dạng...
Nguy cơ tiềm tàng nhưng người dân lại chưa có ý thức bảo vệ môi trường. Nghề sừng ở Thụy Ứng, xã Hoà Bình (Thường Tín - Hà Tây) giúp nhiều gia đình khá giả. Nhà nào cũng khang trang, đầy đủ tiện nghi nhưng ra ngoài ngõ là bụi và rác. Xã thu tiền thu gom, xử lý rác thải rất khó khăn. Tại làng nấu rượu Vân Hà, làng giết mổ gia súc Phúc Lâm (Bắc Giang), nước thải không qua xử lý được các hộ “vô tư” xả thẳng vào hệ thống thuỷ nông, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.
Những thí dụ như trên còn có thể liệt kê dài dài.
Luật môi trường mới chưa vào cuộc sống?
Trong các cơ sở công nghiệp dệt may, giấy và bột giấy... nước thải thường có độ pH trung bình 9-11, chỉ số BOD và COD có thể lên đến 700mg/l và 2.500mg/l. Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần cho phép. Các chất độc hại trong nước thải của các ngành công nghiệp hoá chất, phân bón, khai thác chế biến khoáng sản,... vượt đến 84 lần, H 2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH 3vượt 84 lần. Nếu theo luật môi trường, nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất phải đóng cửa từ lâu. Tại Thái Nguyên, về mùa khô hạn, nước thải từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than... chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu, có độ pH 8,4-9; hàm lượng NH 3là 4mg/l, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu. Khu gang thép Thái Nguyên đang giải quyết công ăn việc làm cho gần 14.000 lao động, việc đóng cửa một nhà máy có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Theo ông Trần Hồng Hà, Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), cứ 4 đơn vị sản xuất thì có một cơ sở vi phạm Luật môi trường. Nhưng từ khi Luật môi trường ra đời (năm 1993), chưa có phiên toà nào xét xử về xâm phạm môi trường; việc xử lý vi phạm mới chỉ dừng lại ở mức độ xử lý hành chính. Thanh tra môi trường phân tích, kết luận mức độ ô nhiễm do các đơn vị, xí nghiệp gây ra... rồi “để đấy”.
Những tín hiệu vui
Sự kiện anh Trịnh Minh Quân - một chủ lò có tiếng trong làng Đông Mai khẳng định làng sẽ hết ô nhiễm bằng lò nấu chì sạch khiến người ta hy vọng sẽ có một bầu không khí trong lành hơn cho mảnh đất “tử thần” này. Nhìn bề ngoài, lò mới không khác gì nhiều so với lò cũ ngoài kích cỡ của thân lò rộng hơn 4m 2và ống khói cao hơn 10m. Tuy nhiên, đối với lò cũ, khi chì được nung với nhiệt độ cao, hàng triệu bụi chì theo ống khói thoát ra ngoài lan toả trong không khí. Lò nấu chì sạch khắc phục được nhược điểm này: bụi chì không thoát ra ngoài mà được giữ lại trong ống khói, chỉ 5% thoát ra ngoài. Theo đó, cứ 10 tấn nguyên liệu lại giữ được nửa tấn chì mà lò cũ gây “lãng phí”. Giá thành chỉ khoảng 100 triệu đồng. Đến nay, làng Đông Mai đã “phổ cập” lò nấu chì sạch của anh Quân, bầu không khí trong lành hơn, sức khoẻ người dân được cải thiện đáng kể.
Mới đây, khoa Hóa học, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) cũng vừa chế tạo thành công thiết bị xử lý nước thải đa năng chuyên dùng cho các làng nghề. Thiết bị này thực chất là sử dụng các chất keo tụ, trợ keo tụ, các chất hấp thụ để tiến hành xử lý sơ cấp nhằm loại bỏ các chất lơ lửng, cặn, bụi... xuống còn 50%. Sau đó, hệ thống tiếp tục hoạt động để xử lý bằng bùn hoạt tính hoặc lọc sinh học, bước này có thể giảm được 30% lượng chất độc hại trong nước; tiếp theo nước thải sẽ được xử lý bằng AOB (ôxy hoá tăng cường), biện pháp này cho phép loại bỏ tới 90% các hợp chất độc hại. Hiện hệ thống này được lắp đặt và vận hành ở làng nghề dệt Vạn Phúc (Hà Đông – Hà Tây) và cho kết quả khả quan. Những người thực hiện đề tài hy vọng từ nay đến năm 2010, thiết bị này sẽ được lắp đặt cho hầu hết làng nghề trên toàn quốc.
Từ thực tế ở làng Đông Mai với lò nấu chì sạch hay làng gốm Bát Tràng với lò nung bằng gas, có thể thấy đầu tư một thiết bị tiên tiến để hạn chế ô nhiễm môi trường không khó. Cái chính là ý thức người dân trong việc bảo vệ môi trường và sự quan tâm của các cấp chính quyền đến đâu. Vẫn biết, giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường cần phải nâng cao ý thức của người sản xuất; đưa các giải pháp mới, kinh nghiệm tốt để xử lý chất thải; quy hoạch làng nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường; quy hoạch khu dân cư; các chính sách hỗ trợ;... nhưng thực hiện thế nào và đến đâu lại là cả một vấn đề lớn. Đến nay, nhiều khu, cụm công nghiệp tập trung vẫn không thể kêu gọi được các làng nghề vào sản xuất vì chi phí mặt bằng, nhà xưởng... quá cao nên người dân vẫn phải sống chung với ồn ào, bụi bặm. Đã đến lúc giải quyết ô nhiễm môi trường làng nghề không thể dừng lại ở những lời kêu gọi.
TS Trần Hồng Hà- Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường:
Để phát triển làng nghề bền vững, Nhà nước cần ban hành đầy đủ các quy định, chế tài bằng cách thông qua phạt hành chính, cảnh cáo hoặc cho ngừng sản xuất để đưa hoạt động sản xuất của người dân làng nghề vào khuôn khổ. Đồng thời, Bộ Công nghiệp kết hợp với chính quyền địa phương phân ra các loại hình làng nghề: tiểu thủ công truyền thống không hoặc ít gây ô nhiễm và công nghiệp lạc hậu làm hại môi trường. Nếu gây ô nhiễm thì phải tách khỏi khu dân cư hoặc xây dựng cụm công nghiệp làng nghề để tập hợp lại. Nhà nước sẽ dùng biện pháp cứng rắn buộc các cơ sở, hộ sản xuất gây ảnh hưởng tới môi trường vào cụm công nghiệp làng nghề. Công tác tuyên truyền nâng cao hiểu biết cần chú trọng hơn nữa để cung cấp hoặc hỗ trợ người dân làng nghề tiếp xúc với các mô hình công nghệ tiên tiến, phù hợp để nâng cao năng suất và giảm ô nhiễm thông qua các hoạt động hỗ trợ, cho vay vốn để người dân đổi mới công nghệ, khắc phục ô nhiễm môi trường.
- Theo kết quả khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại 83 cơ sở làng nghề, có tới 53 cơ sở vợt mức nhiệt độ tiêu chuẩn, 57 cơ sở có nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn. Tỷ lệ bệnh tật chung ở các làng nghề là 13-54%, trong khi tại các xã thuần nông tỷ lệ này là 11%.
- Mục tiêu đến năm 2007 sẽ tập trung xử lý triệt để 439 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng.
- Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường ở nước ta còn thấp (0,1% GDP), trong khi một số nước ASEAN, tỷ lệ này là 1%.
- Nước ta có trung bình 3 cán bộ quản lý môi trường/triệu dân, một số nước ASEAN, trung bình 70 cán bộ/triệu dân.
Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 40 (474), 3/10/2005, tr 3








