Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 01/11/2007 17:10 (GMT+7)

Nuôi trồng thuỷ sản ở Quảng Trị - Từ góc nhìn khoa học và công nghệ

Thực trạng nuôi trồng thuỷ sản tại Quảng Trị

Trong những năm gần đây, phong trào nuôi trồng thuỷ sản ở tỉnh Quảng Trị phát triển khá rầm rộ, tỉnh đã đưa vào nuôi nhiều đối tượng: Tôm sú, cua xanh, cá nước ngọt, cá nước lợ, ba ba, lươn, ếch… Diện tích ao nuôi, đối tượng nuôi và sản lượng nuôi trồng trên một đơn vị diện tích mặt nước đều tăng mạnh. Năm 2004, toàn tỉnh đã đưa vào nuôi 1.868 ha, tăng gần 2 lần so với năm 2001; năm 2005: 2.250 ha, năm 2006: 2.299 ha. Sản lượng nuôi năm 2004 đạt 2.700 tấn; năm 2006 là 3.664 tấn, đạt 94% kế hoạch đặt ra.

Sản xuất cá giống nước ngọt đã được hình thành, mỗi năm cung cấp từ 10 đến 12 triệu con giống. Tính đến nay, tỉnh đã có 6 trại sản xuất các giống cá nước ngọt (chủ yếu là các loài cá truyền thống). Việc sản xuất tôm giống được hình thành từ sau năm 2002, tính đến nay đã có 5 trại chuyên sản xuất tôm giống, chỉ riêng năm 2005 đã sản xuất được 50 triệu tôm giống, đáp ứng 40% nhu cầu giống thả nuôi trong toàn tỉnh. Năm 2006 sản xuất được 120 - 130 triệu con giống, đáp ứng 50% nhu cầu. Từ năm 2002 đến nay, các trại giống cũng đã sản xuất được khoảng 20 vạn con giống cua xanh, cung cấp cho một số vùng nuôi trong tỉnh và các tỉnh phía Bắc.

Một vài mô hình

Các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn của tỉnh được đầu tư xây dựng từ nhiều nguồn kinh phí: Ngân sách sự nghiệp khoa học của tỉnh; kinh phí từ Trung tâm Khuyến ngư quốc gia (thông qua Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Quảng Trị), một số tổ chức phi chính phủ đang hoạt động tại tỉnh và vốn tự có của dân. Dưới đây là một số mô hình đạt hiệu quả cao và được quan tâm nhân rộng:

Mô hình nuôi cá trê lai

Mô hình này được Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Quảng Trị xây dựng tại xã Hải An (huyện Hải Lăng) 5.000 m2 cho 14 hộ dân trong khuôn khổ Chương trình xoá đói giảm nghèo. Cá trê lai được nuôi trong ao hoặc trong bể xi măng có độ sâu 1 - 1,2 m. Số lượng giống thả nuôi: 25.000 con; mật độ: 5 con/m 2. Sau 6 tháng nuôi, cá thương phẩm có trọng lượng 0,3 kg/con thì thu hoạch. Với tỷ lệ sống 75 - 80%, các mô hình đã thu được 5.625 kg cá thành phẩm (11,25 tấn/ha), trị giá hơn 100 triệu đồng (hơn 200 triệu đồng/ha). Nếu trừ đi các khoản chi phí (con giống, thức ăn, bơm nước, công…), tiền lãi thu được hơn 50 triệu đồng... Như vậy, qua 6 tháng nuôi, trên diện tích 360 m 2trung bình mỗi hộ thu được 3, 6 triệu đồng, là số tiền không nhỏ đối với các hộ dân trong diện xoá đói giảm nghèo.

Mô hình nuôi cá nước ngọt sử dụng các chế phẩm sinh học

Mô hình do Trung tâm Hỗ trợ nông dân tỉnh thực hiện, nguồn vốn sự nghiệp KH&CN của tỉnh. Mô hình này được thực hiện tại thôn Thượng Nghĩa (phường Đông Giang, thị xã Đông Hà) với diện tích ao nuôi 3.000 m2; nuôi trong 5 tháng; số lượng giống thả nuôi: 15.000 con; mật độ nuôi: 5 con/m2. Nguồn cá giống lấy từ mô hình sản xuất cá giống ứng dụng công nghệ sinh học. Chế phẩm sinh học được sử dụng gồm: EM thứ cấp (được sử dụng để đảm bảo chất lượng nước ao nuôi, tăng nhanh quá trình phân giải chất hữu cơ, ổn định màu nước, pH và làm giảm thiểu các khí độc gây ra bởi các vi sinh vật lên men yếm khí); chế phẩm EM5 tỏi (là chiết xuất của EM có chứa kháng sinh tự nhiên từ tỏi, có khả năng ức chế các loại vi sinh vật gây bệnh, phòng bệnh cho cá); phân hữu cơ sinh học Bokashi (chứa nhiều chất dinh dưỡng, làm môi trường nhân giống tập đoàn vi sinh hữu ích trong EM khi đưa vào môi trường đáy). Sau 155 ngày nuôi, sản lượng cá thành phẩm thu được là 3.600 kg (12 tấn/ha), thu được 72 triệu đồng (240 triệu đồng/ha), lãi 21 triệu đồng (70 triệu đồng/ha).

Mô hình nuôi cua xanh thương phẩm tại các ao cao triều, trung triều và thấp triều

Mô hình này được Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Quảng Trị xây dựng. Năm 2006, ngân sách sự nghiệp KH&CN của tỉnh hỗ trợ thêm một số kinh phí để nhân rộng tại các ao cao triều và thấp triều ở Gio Mai, Gio Linh và tại các ao trung triều ở Triệu An, Triệu Phong. Tổng diện tích ao nuôi là 15.000 m2, số lượng giống thả nuôi 4.800 con. Tổng sản lượng thu được xấp xỉ 2 tấn (1, 33 tấn/ha), trong đó: Tại ao cao triều: 614 kg/6.000 m 2(1, 02 tấn/ha), ao trung triều: 550 kg/4.000 m 2(1, 37 tấn/ha), ao thấp triều: 740 kg/5.000 m2 (1, 48 tấn/ha). Sau khi trừ chi phí, ao cao triều có lãi thấp nhất (20,2 triệu đồng/ha), ao thấp triều lãi cao nhất (27,4 triệu đồng/ha).

Mô hình nuôi cá chình

Mô hình do Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Quảng Trị xây dựng với sự hỗ trợ vốn của Trung tâm Khuyến ngư quốc gia. Các mô hình nuôi cá chình lồng được thực hiện tại Hải Tân, Hải Lăng và tại Gio Hoà, Gio Linh đạt hiệu quả đáng kể. Tại Gio Hoà có 4 lồng, mỗi lồng thể tích 40 m3, nguồn cá giống lấy từ tự nhiên và có trọng lượng 20 - 40 con/kg. Thức ăn được sử dụng là nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương; thời gian nuôi 12 tháng; cá thương phẩm đạt 0,9 kg/con. Với mỗi lồng: Tổng chi phí khoảng 100 triệu đồng, sau 12 tháng nuôi với mật độ nuôi 50 con /m3 cho thu hoạch 1.600 kg, với giá bán 150.000 đồng/kg, sau một năm nuôi đã thu lãi 139,2 triệu đồng.

Một vài ý kiến trao đổi từ góc độ quản lý KH&CN

Trong thời gian qua, diện tích và năng suất nuôi trồng thuỷ sản ở Quảng Trị đã tăng nhanh. Việc xây dựng mô hình nuôi nhằm đúc kết kinh nghiệm và nhân rộng mô hình để chuyển đổi ngành nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt theo hướng bền vững đã được quan tâm. Tuy nhiên, qua đánh giá một số mô hình đã được thực hiện, chúng tôi xin có một vài ý kiến sau:

- Các mô hình nuôi sau khi được đầu tư cần được duy trì trong một số vụ nuôi để khẳng định kết quả của mô hình. Các mô hình đạt hiệu quả cần được nghiên cứu nhân rộng.

- Qua các chương trình /dự án phát triển kinh tế - xã hội đầu tư xây dựng các mô hình nuôi trên toàn tỉnh thời gian qua cho thấy, các vấn đề về khoa học, công nghệ và môi trường còn chưa được giải quyết triệt để theo hướng phát triển bền vững. Việc xác định phương thức, bước đi để giải quyết các nội dung về mặt khoa học còn nhiều lúng túng, bất cập. Các trung tâm sản xuất, ứng dụng tiến bộ KH&CN… phục vụ cho ngành hầu như chưa xây dựng được các đề án phát triển khả thi cũng như chưa có định hướng ứng dụng KH&CN để nâng cao tiềm lực của ngành, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững…

- Một số đề tài nghiên cứu, ứng dụng sản xuất cá giống và cá thịt tại Quảng Trị thời gian qua chưa có tiến bộ mới, hướng phát triển thiếu căn cứ khoa học, còn manh mún, chưa đồng bộ và thiếu một tầm nhìn thống nhất, dài hơi cho sự phát triển… Sản phẩm của những đề tài nghiên cứu cơ bản có liên quan đến định hướng phát triển ngành thuỷ sản chưa thật sự được vận dụng để xây dựng kế hoạch phát triển của ngành…

- Chưa hình thành được thị trường ổn định nội tỉnh để tiêu thụ sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản. Việc liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm yếu, người dân còn chưa thực sự tin tưởng vào sản phẩm nội tỉnh, tính hướng ngoại còn cao. Thiếu một cơ chế khuyến khích và tạo sự yên tâm cho người chăn nuôi, do vậy, người sản xuất còn chưa mạnh dạn đầu tư lớn để phát triển quy mô nuôi trồng vì còn e ngại đầu ra của sản phẩm.

- Cuối cùng, để lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Quảng Trị phát triển mạnh, tương xứng với tiềm năng của nó, ngành cần có những định hướng thiết thực hơn nữa để tăng sản lượng, từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung, hạn chế khai thác nguồn lợi tự nhiên, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong việc chế biến, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn và xoá đói giảm nghèo.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.