Nước và lễ hội
Thuở hồng hoang con người cảm thấy nhỏ bé, thậm chí run sợ trước các lực lượng tự nhiên, đặc biệt là mưa bão, đã coi nước như vị thần hung dữ. Theo truyền thuyết dân ta, đã tôn nước là THỦY TINH và tỏ ra vui mừng khi chàng đã thua trong trận chiến chống SƠN TINH và phải lui về biển. Vậy nhưng vẫn lập đền thờ với cầu nguyện xin chàng đừng gây binh đao nữa. Chỉ tới khi nông nghiệp lúa nước ra đời thì nước mới được suy tôn lại theo một ý nghĩa khác hẳn, đó là vị thiên thần mang lại cho loài người của cải và hạnh phúc. Vị thần đó trụ trì ở những nơi nào có nước, vừa có thể là phúc thần lại có thể trở nên hung thần tùy kẻ đối diện làm điều thiện hay là gây việc ác. Từ đó xuất hiện tín ngưỡng thờ các thần nước dưới những danh hiệu: Thủy thần, Thần sông (hà bá),...
2- Đất nước ta có bao bãi biển khúc sông từng chứng kiến hoặc trực tiếp tham gia vào những trận chiến chống ngoại xâm bi tráng hoặc oai hùng và đã được lập đền thờ tại chổ, hàng năm cúng tế. Ai là chẳng chia sẽ với vua Thục An Dương Vương vì đã quá nhẹ dạ để mất non sông, rồi chém con và nhảy xuống biển tự vẫn! Đền trên sông Hát Môn vẫn tôn nghiêm thờ hai vị nữ anh hùng đầu tiên của Đất Việt đã thà tuẫn tiết chư không để rơi vào tay giặc.
Sông Cầu lơ thơ nước chảy đã là nơi vang lên bài thơ “ Nam quốc sơn hà nam đế cư” của Lý Thường Kiệt, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc. Rồi Bạch Đằng Giang hùng vĩ với hai lần chiến thắng lẫy lừng; sông Hồng với Hàm Tử, Chương dương đoạt giáo thù giết giặc; Rạch Gầm – Xoài Mút “đánh một trận xanh kinh ngạc”! Và mới đây sông nước Hàm Rồng quật máy bay giặc. Ôi nhiều lắm những khúc sông bãi biển đã trở thành linh dịa mãi được dân ta tôn thờ, bằng đền miếu hoặc trong tâm khảm.
3- Có nên chăng coi hạn hán như một hậu quả tai hại do “Mặt ông trời” hút hết nước khỏi trần gian! Đồng khô cỏ cháy, làng xóm tiêu điều, dân tình đói khổ. Khi đó nước đúng là một vị thánh cứu tinh. Khắp nơi mở lễ cầu vũ. Con người ngước những đôi mắt lo âu nhìn lên bầu trời xanh trong, cầu xin cho mây tụ thành mưa. Đến con nít cũng chấp tay thành kính mà rằng: “Lạy trời mưa xuống, lấy nước con uống, lấy ruộng con cày, lấy đầy nồi cơm”.
Đến vua chúa cũng phải tế lễ Trời – Đất, cầu mong “mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an”. Có những dân tộc quanh ta, năm mới chúc nhau không gì bằng té nước mát vào nhau, hàm ý nước sẽ mang lại ấm no hạnh phúc.
Ở những nơi thờ phượng của hầu hết các tôn giáo tín ngưỡng đều có dùng nước như một lễ vật chính yếu. Có thể tranh luận sẽ không ngã ngũ xem câu nào là gốc, câu nào là ngọn giữa “vô thủy bất thành lễ” và “vô tửu bất thành lễ”, nhưng chắc chắn rằng nhiều đền miếu có thể không có rượu, song không thể thiếu nước. Theo kinh thánh còn được biết ngày xưa để chuẩn bị rước Đức Chúa về, các tín đồ đã lấy nước sông Jordan đem dọn đường trừ ma quỉ. Nước thánh, nước thải với tàn nhang thậm chí còn được coi như linh dược ban cho tín đồ đệ tử tiễu trừ bệnh tật.
4- Đối với LỄ, nước đã có vị trí thượng tôn trong tâm linh con người như vậy, thì ở Hội, nghĩa là những hoạt động văn hóa nghệ thuật thường gắn với lễ, nước lại càng có nhiều vẽ sáng sủa huy hoàng. Ta hãy về dự Hội Lim với các “Liền anh”, “Liền chị” xứ kinh Bắc hào hoa. Ai là không rộn rã trong lòng khi nghe những lời quan họ vang lên từ những sông Cầu, sông Thương thơ mộng!
Chỉ mới cách đây vài năm, người Biên Hòa – Đồng Nai ta đã tưng bừng kỉ niệm ba trăm năm Biên Hòa – Đồng Nai hình thành và phát triển. Sông Đồng Nai, con sông lịch sử đã từng chứng kiến bao sự kiện oai hùng của hào khí Đồng Nai, của miền Đông gian lao mà anh dũng, vẫn với tấm lòng hướng về Đất Tổ thiết tha:
“Từ thuở mang gươm đi mỏ cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long...”
Ngày nay dòng sông ấy đang quẩy sóng vươn lên với những thành công trong phát triển, vẫn là nơi diễn ra những hoạt động tưng bừng của lễ hội.
Hằng năm cứ vào mùa thu, người dân Cần Giờ lại tổ chức Lễ hội Nghinh Ông. Có khi tới mấy vạn người từ khắp nơi về dự. Tâm điểm thú vị nhất là Lễ Nghinh Ông tiến hành trên biển, thường vào lúc 10 giờ sáng. Dẫn đầu là chiếc thuyền chở kiệu Nghinh Ông. Theo sau là hàng trăm tàu thuyền lớn nhỏ với cờ xí rợp trời và người người nhảy múa hò reo.
Nhiều nơi ven biển cũng có những lễ hội tương tự, để cầu mong điều mà như nhà thơ Tế Hanh đã diễn tả:
“... Nhờ ơn Trời biển lặng các đầy ghe!...”
Nguồn: Thông tin KH&CN Đồng Nai, 01/2003







