Núi lửa và nước trên cao nguyên đá Đồng Văn
Đá vôi chiếm hầu hết diện tích cao nguyên đá Đồng Văn. Anh Nguyễn Tiến Tài, phụ trách phòng Quản lý tài nguyên Hà Giang nói với tôi: “Giá như bán được 20 đ/kg đá vôi thì Hà Giang tiêu tiền không hết”. Đúng là đá vôi khắp nơi. Tuy vậy, chỉ cần đi dọc đường ôtô từ ngoại vi thành phố Hà Giang lên Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn, chúng ta thấy rất nhiều vạt đất màu đỏ từ trên đỉnh hoặc sườn núi chảy xuống, đất đỏ phân bố nhiều ở các thung lũng. Quan sát kỹ và rửa đãi đất màu đỏ này cho ta thấy một điều thú vị:
- Ximen của đất đỏ là sét – kaolin màu nâu, nâu đỏ, trắng phớt nâu; rất dính lưỡi khi nếm – đặc trưng cho loại đất phong hóa từ tro núi lửa.
- Trộn lẫn rất đều trong sét màu đỏ (giống như khối bêtôn) là đá, dăm, cuội, sỏi, cát nhiều thành phần (quặng và không quặng), nhiều kích thước, sắc cạnh và bán tròn cạnh, nhiều màu sắc. Đãi kĩ hơn sẽ thu được các khoáng vật kim loại (sắt, titan và sulfua đa kim), khoáng vật nặng (ziercon, monazit).
Chúng tôi cho rằng địa chất nguồn gốc của đất đỏ này chính là vật liệu dăm, cuội, dung nham của núi lửa trẻ (cỡ 20 triệu năm cách chúng ta) bị phong hóa tại chỗ mà thành. Các họng núi lửa này có mặt tại giao điểm của 4 đứt gẫy sâu của các lớp đá vôi cổ hơn. Cao nguyên đá Đồng Văn có hàng trăm núi lửa cổ như vậy (chúng tôi chưa có điều kiện thống kê hết được). Chúng phân bố ở hầu khắp các bản, làng và thung lũng. Dự đóan rằng, trong các hang sâu, vật liệu núi lửa cũng đã từng lấp đầy, sau đó nước ngầm cuốn trôi đi đất sét-kaolin để lại cuội, sỏi, cát, không tan và cuốn trôi được..
Các họng núi lửa này xuất phát từ các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ, thành phần bazơ-kiềm. Chúng gây ra biên chất nhiệt độ siêu cao đối với các đá vây quanh (travectanh hóa và đôlômit hóa đá vôi), nung chảy đá tù binh mà chúng nhận được trong quá trình đi lên mặt đất, làm cho các mảnh đá tù binh (kxenolit) bị vo tròn lại giống cuội bị bào mòn và làm cho nhều người nhầm lẫn đất màu đỏ sang sét trầm tích, sườn tích.
Hiện tượng travectanh hóa (đá vôi nung dở dạng bột, màu trằng, mềm bở) gặp rất nhiều dọc đường từ thị trấn Tam Sơn đi Yên Minh, dọc đường Lũng Phìn đi Mèo Vạc. Loại đá này được cư dân khai thác để nghiền làm vật liệu xây dựng. Giải thích nguồn gốc của travectanh là sự lắng đọng của bột đá vôi do phong hóa mà thành là không đúng.
Khoáng sản liên quan với các núi lửa cổ trên cao nguyên đá Đồng Văn hiện thấy là bauxite (có rất nhiều ở dọc đường đi, các thung lũng, hàng chục lỗ khoan thăm dò nước ở xã Lũng Phìn, bauxite trong khoan dày tới 25 mét và 2 lỗ khoan ở Lũng Táo, quặng trong hang đá vôi từ 31 đến 45 mét). Nói bauxite Hà Giang có nguồn gốc trầm tích là sai. Ngoài bauxite còn có thiếc, sulfua đa kim. Dự kiến có thể tìm được vàng và đá quý nguồn gốc á núi lửa trong các hang động, các thung lũng ở cao nguyên này.
Nước ở cao nguyên đá Đồng Văn cần thiết và quý hơn vàng. Đồng thời tìm được nguồn nước ở đây cũng khó hơn tìm vàng. Bởi vì vàng sau khi thành tạo thì ở nguyên chỗ, còn nước thì thường bị chảy xuống sâu theo các khe nứt, đứt gẫy nhiều vô kể trên vùng đá vôi.
Nước trên cao nguyên đá Đồng Văn có 2 loại: nước mặt và nước dưới đất.
Nước mặt chủ yếu là nước mưa. Người dân đã được Nhà nước trang bị nhiều lu 2 m 3để hứng nước ăn trong mùa mưa. Chính phủ đã và sẽ cho xây 30 hồ treo tại nhiều thung lũng để giữ lại nước mưa - vàng trắng trời cho, giúp dân có nước dùng ít tháng sau mùa mưa và tạo phong cảnh đẹp cho cao nguyên đá. Tuy vậy, dùng nước hồ treo cho ăn uống là không ổn vì nhiễm bẩn nhiều. Mặt khác, vị trí làm hồ treo luôn trùng với các đứt gẫy, cụm đứt gẫy, họng núi lửa, có nhiều hang khô, dễ gây sập hỏng hồ nếu không xử lý tốt. Hơn nữa, nếu hạn kéo dài thì các hồ cũng bị treo khô.
Nước dưới đất, theo chúng tôi, có nguồn gốc chủ yếu là nước nội sinh, liên quan với cáchọng núi lửa lớn. Nước mặt khi ngấm xuống, hầu hết theo khe nứt đá vôi ngấm xuống rất sâu. Chúng tôi cho rằng, thăm dò và xây dựng các giếng khoan nước ngầm cho người dân cao nguyên đá Đồng Văn là tối ưu.
Nhà nước cũng đã đầu tư rất nhiều tiền cho việc tìm nước ngầm cho người dân cao nguyên đá, song kết quả đem lại chưa đạt yêu cầu và không bền vững, 2 giếng khoan ở Mèo Vạc quá ít nước; 4 giếng khoan ở thị trấn Đồng Văn được hơn 600 m 3/ngày mà 5 năm nay chưa được đưa vào sử dụng !?. Vì thế, Nhà nước và các địa phương nên khuyến khích việc tìm nước ngầm cho sinh hoạt theo hình thức khoán trọn gói, được ăn thua chịu.








