Liên hiệp các hội và khoa học kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 19/09/2019 09:14 (GMT+7)

Nói không sử dụng với amiang trắng

Theo lộ trình từ năm 2023 sẽ chấm dứt sản xuất tấm lợp amiăng (hay còn gọi là Fibro ximăng) do lo ngại amiang trắng độc hại và là tác nhân gây ung thư đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Bộ Y tế cảnh báo rất nhiều lần. Vusta.vn đã có cuộc trao đổi với GS.TS Lên Vân Trình - Chủ tịch Hội KHKT An toàn vệ sinh lao động Việt Nam về vấn đề này.


Tấm lớp amiang có thể gây ảnh hưởng sức khỏe con người (Ảnh internet)

Ảnh hưởng của amiang trắng đến sức khỏe

Trao đổi với Vusta.vn, GS Trình cho biết, nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh khi amiang vào phổi sẽ gây ra các triệu chứng viêm, các khối u và là nguyên nhân gây ra các bệnh lý về phổi, nguy hiểm hơn là các bệnh mãn tính như ung thư.

Tại Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh nào do amiang trắng gây ra. Vậy, tại sao lại vận động cấm amiang trắng? Trong khi các tác nhân ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người: Ô nhiễm không khí, thuốc lá, thuốc bảo vệ thực vật lại không được đề cập đến.

GS Trình cho biết thêm, như ở Anh, việc sử dụng amiang đã bị cấm hoàn toàn vào năm 1999, nhưng cho tới 10 năm sau, mỗi năm có hơn 2.600 người có chẩn đoán mắc bệnh này. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở những người trong độ tuổi 60-80 và nam giới bị bệnh nhiều hơn phụ nữ.

Amiang xâm nhập vào cơ thể và gây hại chủ yếu qua đường hô hấp, khi người lao động và người sử dụng hít phải bụi hô hấp có chứa bụi amiang phát tán trog môi trường. Các công việc phát sinh bụi chủ yếu trong quy trình sản xuất như xé bao, nghiền, trộn, khoan… hay trong sử dụng tại cộng đồng khi người dân khoan, cắt, phá dỡ đập các tấm lợp, vật liệu có chứa amiang, sử dụng các vật liệu amiang để làm đường, đổ làm móng nhà…

Vấn đề sử dụng amiang trắng tại Việt Nam

GS Trình cho biết, amiang được sử dụng ở Việt Nam từ những năm 60, chủ yếu trong sản xuất tấm lợp chiếm tỷ lệ trên 90%. Số còn lại được sử dụng để sản xuất các loại má phanh, vật liệu cách nhiệt… Năm 2018, Việt Nam nhập khẩu khoảng 20.000 tấn amiang chrysotile, sản xuất khoảng 30 triệu m2 tấm lợp/năm.

Khoảng 15% amiang nhập khẩu được sử dụng trong công nghiệp phân lân nung chảy, sản xuất má phanh, trước đây có đóng tàu, sản xuất nồi hơi.. nhưng hiện nay đã dừng.

Cũng theo GS Trình, thực trạng những nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cho thấy những trường hợp ung thư trung biểu mô tiền sử không hoặc ít tiếp xúc với amiang. Bởi vì, việc tìm hiểu tiền sử tiếp xúc với amiang là cực kỳ khó khăn do có hàng nghìn tình huống có thể tiếp xúc, nên cần phải có chuyên môn sâu. Trong khi đó thời gian ủ bệnh ung thư trung biểu mô kéo dài từ 20-50 năm, chưa kể lý do sai số.

Việc cho đến nay ít phát hiện được bệnh bụi phổi amiang, theo GS Trình có thể do những nguyên nhân sau: Giám sát sức khỏe cho người lao động chưa liên tục. Người lao động khi chuyển công việc không được theo dõi về tiền sử tiếp xúc với amiang; Không có các trung tâm theo dõi người lao động tiếp xúc với amiang nên không thể theo dõi được lịch sử tiếp xúc; Phần lớn các cơ sở sản xuất tấm lợp có tuổi đời trẻ, trong thời gian ủ bệnh của bệnh amiang lại từ 20 năm trở lên, người lao động tại các cơ sở sản xuất nhỏ chủ yếu là lao động thời vụ nên ít có điều kiện kiểm tra sức khỏe; Kinh nghiệm chẩn đoán, phát hiện bệnh amiang còn ít, nguồn lực kém, trong khi bệnh amiang khá phức tạp, không dễ phát hiện; Các nghiên cứu dịch tễ học của Việt Nam về vấn đề này còn chưa sâu; Các doanh nghiệp không muốn cho người lao động khám sức khỏe sâu. Tổ chức khám sức khỏe cho cộng đồng có tiếp xúc với amiang rất tốn kém..

Hiện nay thế giới đã có sự giám định nhanh cho việc chẩn đoán, xác định ung thư trung biểu mô. Vì thế, việc cần làm là chúng ta phải có một đơn vị thu nhập hồ sơ những người có tiền sử tiếp xúc với amiang để theo dõi và điều trị kịp thời, GS Trình cho biết.

Kiến nghị cấm sử dụng amiăng trắng tại Việt Nam

Với những lý do trên, để lộ trình cấm sử dụng amiang ở Việt Nam khả thi như đề nghị của Thủ tướng và sự chuẩn bị của Bộ Xây dựng, theo GS Trình cần có những hành động sau:

- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Cần có lộ trình ngừng sử dụng amiang ở Việt Nam, càng sớm càng tốt; Có chính sách ưu đãi về thuế trong lộ trình để nhập các nguyên liệu sản xuất tấm lợp không amiang và giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất tấm lợp không amiang cho đến khi cấm hoàn toàn; Nâng thuế nhập khẩu amiang và các sản phẩm chứa amiang; Tăng cường công tác tuyên truyền để cộng đồng nâng cao nhận thức, kiến thức, hiểu biết về amiang, các biện pháp phòng ngừa các bệnh liên quan đến amiang.

- Đối với Bộ Y tế và các cơ quan khoa học công nghệ: Cần thành lập Trung tâm nguồn dữ liệu amiang để điều tra lập hồ sơ những người có tiếp xúc với amiang để theo dõi và điều trị kịp thời cho những người có nguy cơ cao; Có chính sách bắt buộc các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu có chưa amiang phải lập hồ sơ theo dõi bệnh bụi phổi cho người lao động của mình. Phải dán nhãn mức độ nguy hiểm khi có chưa amiang; Tiếp tục cải tiến công nghệ, thiết bị để giám giá thành thiết bị, dẫn đến giảm giá thành sản phẩm không amiang; Tư vấn trong công tác thiết kế, chế tạo, lắp đặt để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi công nghệ và dây chuyền công nghệ; Yêu cầu các sản phẩm có chứa amiang đều phải dãn nhãn cảnh báo về ảnh hưởng tới sức khỏe để cộng đồng có sự lựa chọn khi sử dụng.

- Đối với Hiệp hội tấm lợp Việt Nam: Một số doanh nghiệp sản xuất tấm lợp amiang đã chủ động đầu tư đa dạng hóa sản phẩm như sản xuất song song tấm lợp amiang với sản xuấ tôn lợp, tấm phẳng, tấm ốp tường, ngói xi măng sợi. Trong thời gian tới, hiệp hội tấm lợp cần: Động viên, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ không amiang. Có định hướng cho doanh nghiệp về sản xuất vật liệu không amiang; Hỗ trợ thông tin, tăng cường móc nối doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu để nhanh chóng chuyển đổi công nghệ; Tổ chức các đợt tham quan cho đại diện doanh nghiệp đến các cơ sở sản xuất tấm lợp không amiang để học hỏi và rút kinh nghiệm.

Amiang trắng là nguyên liệu sản xuất tấm lợp fibro xi măng (Ảnh internet)

- Đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu có chứa amiang cần tích cực chuyển đổi dần công nghệ sản xuất không sử dụng amiang trong tấm lợp. Giảm dần việc sản xuất tấm lợp có amiang. Thực tế cho thấy, chuyển đổi sang sản xuất tấm lợp sử dụng sợi PVA thay thế sợi amiang, các đơn vị vẫn sử dụng dây chuyển hiện có, chỉ thay đổi phối liệu, do đó có các chi phí đối với việc đầu tư chuyển đổi không nhiều; Chủ động tiếp cận với các cơ quan nghiên cứu dây chuyền sản xuất tấm lợp không amiang để có kế hoạch vốn và đầu tư chuyển đổi; Tích cực tham dự các triển lãm quốc tế và trong nước để tiếp cận với các tiến bộ mới trong sản xuất vật liệu thay thế amiang; Có đề án trình Chính phủ xin trợ cấp về vốn, ưu đãi thuế trong chuyển đổi sản xuất vật liệu thay thế amiang.

- Đối với cộng đồng, người dân đã dần nhận thức được tác hại của amiang đến sức khỏe con người thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng như thông tin tuyên truyền từ các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Tuy nhiên, vẫn cần tuyên truyền rộng rãi để người dân nâng cao hiểu biết về amiang và bệnh do amiang gây ra, có biện pháp phòng ngừa, tự bảo vệ mình; Lựa chọn các sản phẩm không chứa amiang.

Tác giả bài viết: HT

Xem Thêm

Đẩy mạnh hoạt động tư vấn phản biện
Tư vấn, phản biện là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Liên Hiệp Hội Việt Nam và Liên hiệp Hội các tỉnh thành. Với ý thức trách nhiệm, tinh thần khách quan khoa học, hoạt động Tư vấn, phản biện phản khách quan ý kiến của đội ngũ trí thức đóng góp vào việc xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật và thực hiện có hiệu quả các đề án, dự án kinh tế – xã hội quan trọng của đất nước.
Cao Bằng: Đẩy mạnh hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội có vai trò quan trọng nhằm bổ sung thêm những luận cứ khoa học, cơ sở thực tiễn một cách khách quan, tạo ra sự đồng thuận giữa các cơ quan quản lý, đối tượng quản lý và cộng đồng xã hội, đồng thời tạo ra tính khả thi, hiệu quả khi kết quả tư vấn, phản biện được áp dụng vào thực tiễn đời sống.
Dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô phải minh bạch phương án tài chính
Khẳng định đầu tư theo phương thức đối tác công tư(PPP) đối với dự án thành phần 3 đầu tư xây dựng đường cao tốc thuộc DA Đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội là cần thiết, chuyên gia lưu ý, Nhà nước phải minh bạch phương án tài chính, có phương án tổ chức giao thông rõ ràng, nhất là đối với các phương tiện liên tỉnh bắt buộc phải đi qua Vành đai 4 để bảo đảm quyền lợi nhà đầu tư.
Các nhà khoa học góp ý cho Dự án Vành đai 4 – Vùng Thủ đô
Ngày 12/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) phối hợp với Tổng hội Xây dựng Việt Nam và Hội Khoa học và kỹ thuật Cầu đường Việt Nam tổ chức Hội thảo "Tác động của việc xây dựng Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc theo phương thức đối tác công tư thuộc Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội".
Nâng cao hiệu quả công tác tư vấn phản biện của Liên hiệp hội Việt Nam
Thời gian qua Liên hiệp Hội Việt Nam (LHHVN) đã chủ trì tổ chức thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội (TV, PB &GĐXH) rất sôi nổi. Rất nhiều cuộc toạ đàm, hội thảo đã được tổ chức, các hội thành viên, các tổ chức trực thuộc đã đóng góp được những ý kiến rất phong phú, bổ ích.
Phát huy hiệu quả hoạt động tư vấn phản biện và giám định xã hội
Hoạt động TVPB&GĐ XH là hoạt động mang tính xã hội, độc lập, khách quan, do trí thức đóng góp trí tuệ, cung cấp cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn cho Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền làm cơ sở đánh giá, phân tích và quyết định các vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách quan trọng và những chương trình, dự án lớn có liên quan về KH&CN, GD&ĐT và chính sách xây dựng đội ngũ trí thức.
Liên hiệp Hội Sơn La: Đẩy mạnh hoạt động tư vấn phản biện
Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội có vai trò quan trọng nhằm bổ sung thêm những luận cứ khoa học, cơ sở thực tiễn một cách hiện thực, khách quan, tạo ra sự đồng thuận giữa các cơ quan quản lý, đối tượng quản lý và cộng đồng xã hội, tạo ra tính khả thi, hiệu quả khi áp dụng vào thực tiễn đời sống.
Phát triển nhà ở xã hội: Cần bổ sung cụ thể vào Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi)
Trong tờ trình về dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) gửi Thủ tướng Chính phủ mới đây, Bộ Xây dựng cho biết, nhiều năm qua, việc chăm lo giải quyết nhà ở cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm quan tâm và xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tin mới

Diễn đàn Đối tác EU năm 2024
Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên minh Châu Âu (EU) tháng 10 năm 1990, Đến nay, Việt Nam đã trở thành một trong những đối tác chính của Liên minh châu Âu trong khu vực, với số lượng thỏa thuận cao nhất so với bất kỳ quốc gia nào ở Đông Nam Á (bao gồm EVFTA và JETP).
Thanh Hóa: Triển khai Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam
Ngày 06/6/2024, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) đã tổ chức các hội nghị triển khai kế hoạch tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thanh Hóa lần thứ 14 (2024 - 2025) và Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam năm 2024. Đồng chí Nguyễn Văn Phát - Chủ tịch Liên hiệp hội, Trưởng Ban Tổ chức, chủ trì các hội nghị.
Tiền Giang: Hiệu quả ứng dụng của giải pháp “Phần mềm hỗ trợ người khiếm thị”
Với mong muốn giúp người khiếm thị có phương tiện hỗ trợ trong sinh hoạt, học tập, thuận lợi trong giao tiếp và tiếp cận thông tin được nhanh chóng, kịp thời, ThS Lê Trung Kính(GV Trường THPT Chuyên Tiền Giang) đã nghiên cứu tạo ra giải pháp “Phần mềm hỗ trợ người khiếm thị(Smart eye)” rất tiện dụng. Giải pháp này đạt giải Ba, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Tiền Giang lần thứ XV(2022 – 2023).
Cần Thơ: Giải pháp và cơ hội giảm phát thải khí nhà kính
Ngày 7/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cần Thơ phối hợp với Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp Nông nghiệp - Văn phòng đại điện vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã tổ chức hội thảo khoa học “Giải pháp và cơ hội giảm phát thải khí nhà kính từ đề án 1 triệu hécta lúa chất lượng cao vùng đồng bằng sông Cửu Long”.
Đắk Lắk: Điều chế viên nén bao phim chứa cao chiết toàn cây đinh lăng
Giải pháp “Điều chế viên nén bao phim chứa cao chiết toàn cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms) trồng tại Đắk Lắk” của ThS. Lê Trung Khoảng và cộng sự đã được Hội đồng khoa học Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC) đánh giá cao và trao giải Khuyến khích Giải thưởng Sáng tạo Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2023.
Đẩy mạnh hoạt động tư vấn phản biện
Tư vấn, phản biện là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Liên Hiệp Hội Việt Nam và Liên hiệp Hội các tỉnh thành. Với ý thức trách nhiệm, tinh thần khách quan khoa học, hoạt động Tư vấn, phản biện phản khách quan ý kiến của đội ngũ trí thức đóng góp vào việc xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật và thực hiện có hiệu quả các đề án, dự án kinh tế – xã hội quan trọng của đất nước.
Tiết kiệm năng lượng, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường
Thời gian qua Liên hiệp cá Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long và các tổ chức thành viên đã luôn chủ động tập hợp lực lượng, nguồn lực để triển khai các hoạt động truyền thông và phổ biến kiến thức có nhiều bước tiến, đạt kết quả đáng ghi nhận, ông Hà Văn Sơn – Chủ tịch Liên hiệp Hội Vĩnh Long cho biết.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: 25 xây dựng và phát triển LHH Thái Bình đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận
Sáng ngày 7/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thái Bình (Liên hiệp Hội) đã tổ chức kỷ niệm 25 năm ngày thành lập (7/6/1999 – 7/6/2024) và gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu tỉnh Thái Bình năm 2024. TSKH Phan Xuân Dũng – Chủ tịch VUSTA đã đến dự, phát biểu chúc mừng và giao nhiệm vụ cho Liên hiệp Hội trong thời gian tới.
Đắk Lắk: Dự thảo Quyết định Ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật về khuyến nông
Ngày 04/6/2024, Liên hiệp hội Đắk Lắk đã tổ chức họp Hội đồng tư vấn, phản biện, góp ý Dự thảo Quyết định Ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật về khuyến nông trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. TS. Vương Hữu Nhi – Chủ tịch Liên hiệp hội tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng.
Phú Thọ: Sơ kết 6 tháng đầu năm 2024
Ngày 05/6/2024, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc tỉnh Phú Thọ đã tổ chức Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2024.
Điểm sáng về phát triển cộng đồng, bảo bệ môi trường
Với đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao, nhiệt tình, năng động, Trung tâm Nghiên cứu Quản trị tài nguyên vùng cao (CEGORN) đã kêu gọi các nguồn lực và hỗ trợ thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và quản trị tài nguyên, bảo tồn thiên nhiên tại khu vực miền Trung,