Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 10/02/2012 18:13 (GMT+7)

Những yếu tố tác động trí thức trẻ đến làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh (Kỳ 1)

TP. HCM là trung tâm, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam , luôn là địa phương đứng đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Với vị trí quan trọng đó, TP. vừa có khả năng tạo ra năng lực nội sinh to lớn, đồng thời có sức lan toả, thu hút nguồn lực từ nhiều nơi, giữ vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển cho nhiều vùng khác của các nước. Hiện nay, ngoài lực lượng lao động tại chỗ, còn có nhiều nguồn lao động từ các tỉnh thành đến thành phố làm việc và sinh sống, trong đó có đội ngũ lao động trí thức trẻ. Lực lượng lao động trí thức trẻ chuyển đến từ nhiều nguồn khác nhau: sinh viên sau khi học tập và ở lại thành phố làm việc; lao động có trình độ học vấn, tay nghề cao từ các tỉnh thành đến tìm kiếm cơ hội việc làm và cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao chuyên môn tay nghề; trí thức trẻ Việt kiều về nước tự mở công ty, hoặc hợp tác với các tổ chức trong nước nghiên cứu, giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm, làm việc trong các công ty xuyên quốc gia, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức phi chính phủ… Đội ngũ lao động trẻ này tham gia hoạt động trong hầu hết các nhóm xã hội - nghề nghiệp như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học nông – lâm – ngư nghiệp, y - dược, nghiên cứu, giảng dạy, văn học nghệ thuật, nhà báo, lãnh đạo và quản lý…

Bài viết được hình thành dựa trên kết quả đề tài nghiên cứu năm 2008 “Nghiên cứu lao động trí thức trẻ đến làm việc tại TP. HCM hiện nay”, của Viện Nghiên cứu Xã hội, do Trần Văn Phương chủ nhiệm. Trên cơ sở khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn sâu (gồm 250 phiếu hỏi và 10 phỏng vấn sâu), trí thức trẻ đến từ các tỉnh/thành trong cả nước; doanh nghiệp tư nhân; công ty, doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài. Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng, trong đó được phân bố như sau: Nam giới chiếm 52,8%, nữ giới chiếm 47,2%; độ tuổi từ 20-25 chiếm 57,2%; từ 26-30 chiếm 40,4%; từ 31-35 chiếm 2,4%; thời gian làm việc tại thành phố: từ 1-5 năm chiếm 72,8%; từ 6-10 năm chiếm 27,2%; Tình trạng hộ khẩu: KT3: 63,7%, KT4: 36,3%. Qua khảo sát, bài viết phân tích, đánh giá những động lực tác động đến trí thức trẻ chọn thành phố Hồ Chí Minh làm nơi làm việc, lập nghiệp, sinh sống và định cư lâu dài.

1. Động lực kinh tế

Những thành quả đi đầu trong phát triển kinh tế, thị trường lao động dồi dào, môi trường làm việc năng động của TP. HCM tạo nên một sức hút lớn đối với người lao động từ các tỉnh khác. Những người từ các tỉnh/thành về TP. HCM tìm việc làm do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng lý do về kinh tế là chủ yếu. Trong cuộc điều tra “Di dân nông thôn thành thị từ Cần Giuộc (Long Anh) lên TP. HCM” do Viện Kinh tế thành phố tiến hành từ năm 1999-2002 cho thấy, đại đa số các hộ gia đinh có người thân di chuyển về TP. HCM đều nói lên nguyện vọng được giảm nghèo, đỡ khó khăn. Họ xem đó như là một chiến lược sinh tồn của gia đình. Đối với sinh viên, khi tốt nghiệp ra trường, trí thức trẻ ở các tỉnh khác khi quyết định sinh sống và làm việc tại TP. HCM có phải do yếu tố kinh tế là điều kiện quan trọng nhất hay không?

Do trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, nên mức chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong cả nước có xu hướng ngày càng tăng. Thừa lao động, thiếu việc làm ở các tỉnh khó khăn, các tỉnh có nền kinh tế chậm phát triển là một trong những nân tố khiến trí thức không trở về quê hương. Có thể thấy, những địa điểm trí thức di chuyển đến là những thành phố lớn, cơ sở hạ tầng thuận lợi đảm bảo có mức sống khá, môi trường làm việc tốt và có điều kiện phát triển nghề nghiệp. Những thành phố như Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng… được lực lượng trí thức trẻ lựa chọn khi muốn lập nghiệp và sinh sống khi không muốn về quê.

Như vậy, lý do di chuyển của trí thức đến TP. HCM chịu sự tác động của cà “lực đẩy” và “lực hút”. Yếu tố không thuận lợi tạo lực đẩy đó là vấn đề thất nghiệp, hoặc có việc làm nhưng không ổn định, thu nhập thấp, môi trường làm việc không phù hợp, không có điều kiện phát huy khả năng chuyên môn nghề nghiệp. Yếu tố thuận lợi tạo lực hút của TP. HCM đó là thị trường kinh tế năng động, tìm được việc làm tương đối dễ dàng, điều kiện phát triển nghề nghiệp cao.

Nguồn gốc xuất thân của trí thức trẻ đến TP. HCM chủ yếu là ở thị trấn, làng xã (chiếm 64,4%). Hoàn cảnh gia đình của đội ngũ lao động này tương đối khó khăn, chủ yếu là làm nông nghiệp, sản xuất, buôn bán nhỏ. Từ nguồn gốc xuất thân và hoàn cảnh gia đình đòi hỏi họ phải nhanh chóng tìm việc làm, có thu nhập để đảm bảo đời sống bản thân và phần nào giúp đỡ cho gia đình. Do đó, phần lớn các ý kiến cho r ằng, gia đình ủng hộ việc ở lại thành phố làm việc và sinh sống của đội ngũ này. Trong đó có 24,8% hoàn toàn ủng hộ, 48,8% ủng hộ, 22,4% gia đình không có ý kiến mà tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của cá nhân và chỉ có 4,0% là không ủng hộ.

Để ở lại thành phố, đòi hòi trí thức nhập cư phải nhanh chóng tìm việc làm nhằm đảm bảo đời sống của bản thân và một phần giúp đỡ cho gia đình. Vì lẽ đó, các ý kiến được hỏi cho rằng, mức độ quan trọng của việc làm là: 60,8% rất quan trọng, 37,2% cho là quan trọng, chỉ có 2,0% không quan trọng việc làm. Việc làm đã tạo nên thu nhập cho bản thân người trí thức nhưng đồng thời họ còn phải phụ giúp gia đình về kinh tế như: gửi tiền về quê cho bố mẹ, hỗ trợ anh em ăn học, mua sắm dụng cụ sản xuất, trang thiết bị cho gia đình… Với mức lương nhận được, lao động trí thức trẻ nhập cư cần phải trang trải những nhu cầu thiết yếu của bản thân như tiền thuê nhà, ăn uống, sinh hoạt, phương tiện nghe nhìn, đi lại… họ còn phải thực hiện trách nhiệm với gia đình là gửi tiền về quê (41,6%). Đây vừa là trách nhiệm và cũng là bổn phận của người con đối với gia đình sau nhiều năm được gia đình nuôi ăn học và trưởng thành.

Mức lương tối thiểu của một trí thức trẻ vừa ra trường làm việc trong các đơn vị của Nhà nước hiện nay được tính theo hệ số là 2,34 x 830.000 đồng. Như vậy, hằng tháng, thu nhập tối thiểu của mỗi người gần 2.000.000 đồng. Có thể thấy, với mức lương khoảng 2.000.000 đồng không đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu, do đó, có rất ít trí thức trẻ nhập cư làm việc tacị các cơ quan hành chính Nhà nước. Số lượng trí thức ít làm việc tại các cơ quan hành chính của thành phố ngoài nguyên nhân là phải có hộ khẩu (KT1 hoặc KT2) mới xét biên chế, thì tiền lương là điều kiện đáng quan tâm. Vì mức lương trong các cơ quan hành chính Nhà nưwcs không thể đảm bảo cho đời sống của người trí thức nhập cư và phụ giúp gia đình nên họ thường lựa chọn những ngành nghề, đơn vị công tác có mức lương tương đối để đảm bảo thu nhập cho bản thân và trợ giúp cho gia đình.

Do điều kiện xuất thân ở các vùng quê và trong gia đình tương đối khó khăn, cùng với tính cách chịu khó, cần cù, tiết kiệm, năng động, cầu tiến nên người trí thức nhập cư nhanh chóng thích nghi với điều kiện sống và làm việc ở thành phố. Họ luôn tích cóp tài chính để gửi về quê hoặc làm vốn kinh doanh, mua đất, mua nhà cho tương lai. Có thể thấy, đối với đội ngũ trí thức mới lập thân ở thành phố thì cuộc sống khó khăn hơn những người đã sinh sống từ 5 năm trở lên. Những người vừa mới ra trường hoặc mới đến thành phố lập nghiệp việc làm có sự bấp bênh, không ổn định, mức lương tương đối thấp. Nhưng sau vài năm làm việc, đời sống của họ dần đi vào ổn định, tiền gửi về phụ giúp gia đình nhiều hơn, có điều kiện mua đất, mua nhà định cư lâu dài ở thành phố.

Tuy nhiên, sự tích luỹ vốn của bản thân người trí thức vẫn còn thấp nên họ có thể mở các cửa hàng, doanh nghiệp nhỏ, hoặc liên kết với bạn bè mở công ty… Muốn đảm bảo cuộc sống lâu dài và ổn định, việc trước tiên khi có ít vốn thì phần lớn trí thức nhập cư cho rằng cần phải mua đất, mua nhà để ở, vì phần lớn là ở nhà thuê hoặc ở nhờ. Theo khảo sát, nhà đất ở của trí thức nhập cư chủ yếu tập trung ở các quận, huyện ngoại thành và phần lớn là đất nông nghiệp chưa chuyển mục đích sử dụng. chỉ có một bộ phận nhỏ trí thức sinh sống ở thành phố lâu dài (trên 5 năm) và làm việc ở các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, những ngành nghề có mức thu nhập cao như công nghệ phần mềm, bưu chính viễn thông, công ty nước ngoài hoặc những người được gia đình trợ giúp vốn làm ăn thì đời sống khá giả hơn, họ nhanh chóng mua nhà, có đầy đủ tiện nghi và sớm hoà nhập lối sống đô thị. Tuy nhiên, khi họ đạt được các điều kiện như có nhà ở, việc làm ổn định, sinh sống lâu dài thì đã đăng ký hộ khẩu ở thành phố (đây không phải đối tượng nghiên cứu).

Theo khảo sát về mục tiêu của trí thức trong thời gian 5 năm tới, trong đó có 67,2% cho rằng cần phải kiếm thật nhiều tiền, 49,2% muốn học thêm (cao học, tiến sỹ, nghiệp vụ chuyên môn, ngoại ngữ, vi tính), 17,2% muốn cống hiến cho xã hội (làm công tác từ thiện, các công việc hướng về cộng đồng…), 16,4% ý kiến muốn tìm kiếm công việc tốt hơn và có 11,2% cho rằng sau một thời gian tích luỹ kinh nghiệm thì họ muốn về quê lập nghiệp.

Như vậy, dự định của đội ngũ trí thức ở giai đoạn hiện tại cũng như trong thời gian tới thì vấn đề kinh tế, làm việc để có nhiều tiền là những lựa chọn được nhiều người nghĩ đến nhất. Đây là mục tiêu, kế hoạch làm việc, cũng như lý do chọn thành phố sinh sống của trí thức trẻ nhập cư. Tuy nhiên, có điều cần lưu ý là không giống như lực lượng nhập cư lao động phổ thông thì yếu tố kinh tế chi phối toàn bộ nguyên nhân đến thành phố sinh sống, nhưng đối với lực lượng trí thức trẻ nhập cư, ngoài nguyên nhân kinh tế thì còn nhiều yếu tố khác tác động như điều kiện môi trường làm việc tốt, cơ hội tiếp thu kinh nghiệm, thăng tiến, cơ hội họchành, đời sống đô thị phát triển… (xem tiếp kỳ sau)

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.