Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 08/12/2014 15:05 (GMT+7)

Những vướng mắc trong thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ở Thừa Thiên Huế

Một vấn đề đáng quan tâm trong giao rừng cộng đồng là lợi ích của người giữ rừng. Chính sách hưởng lợi đối với rừng tự nhiên hiện hành nằm tản mạn trong nhiều văn bản, thiếu hệ thống và khó áp dụng vào thực tiễn. Việc quy định hưởng lợi trên tỷ lệ phần trăm giá trị tăng thêm của rừng do chủ rừng đầu tư là khó xác định, phương án ăn chia giữa nhà nước và chủ rừng chưa quy định cụ thể ai là người đại diện cho nhà nước, chi phí khai thác, giá bán, chi phí thiết kế, bài cây…

Người giữ rừng tự nhiên cần được ưu tiên giao đất sản xuất lâm nghiệp để “lấy ngắn nuôi dài”, có kinh phí bù đắp chi phí bảo vệ rừng: Cộng đồng, hộ gia đình, nhóm hộ thiếu nguồn lực để bảo vệ và phát triển rừng, trong khi đó một số mô hình cho thấy, nếu họ được giao đất sản xuất thì có nguồn lực để bảo vệ rừng.

Về xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cũng gặp khó khăn, thực chất đối tượng phá rừng phần lớn là người dân nghèo, thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm nên việc chấp hành hình phạt vi phạm hành chính là rất thấp, công tác cưỡng chế theo luật định là không khả thi.

Theo thống kê cho biết, từ nằm 2010 đến 2014 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã xử lý 3.867 vụ vi phạm hành chính, 10 vụ hình sự với 14 bị cáo. Theo Luật Bảo vệ và Phát triển, Pháp lệnh điều tra hình sự thì lực lượng kiểm lâm có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với một số điều vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ rừng, nhưng thực tế lực lượng kiểm lâm lại không có cán bộ điều tra viên, không có quyền tạm giam giữ hình sự, không được đầu tư kinh phí, phương tiên trong lĩnh vực này. Những bất cập này làm cho công tác đấu tranh ngăn chặn phá rừng gặp nhiều khó khăn, hiệu lực của Luật trong thực tiễn chưa cao.

Để khắc phục những khó khăn trên, theo ông Mai Văn Tâm – Phòng Quản lý bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm Lâm Thừa Thiên Huế cho biết, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 có nêu khái niệm cộng đồng dân cư thôn nhưng trong phần nói về chủ rừng lại không công nhận cộng đồng như một chủ rừng.

Cần thể chế hóa để minh bạch giữa quyền định đoạt của nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu với quyền tài sản của chủ rừng

Cần đồng bộ giữa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với các luật khác. Trong thực tiễn, việc thực thi luật gặp phải nhiều bất cập, điều 22 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng quy định việc GRCTR, thu hồi rừng phải đồng thời với việc GRCTR… nhưng thực tế đây lại do 2 ngành quản lý khác nhau, các văn bản dưới luật quy định về các đối tượng được GRCTR , GĐCTĐ cũng không giống nau; Các chủ thể trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật Dân sự cũng có những khái niệm không thống nhất gây khó khăn cho các hoạt động giao dịch dân sự.

Ông Tâm cũng cho biết thêm, về hạn mức giao rừng đối với rừng trồng, đất trồng rừng cho hộ gia đình, cá nhân là 30 ha như hiện nay là quá lớn đối với rừng trồng và đất trồng nhưng lại nhỏ đối với công tác quản lý bảo vệ rừng tự nhiên, kinh doanh du lịch sinh thái. Thực tế hiện nay đa phần người dân sống gần rừng nhưng do nhiều nguyên nhân đang thiếu đất sản xuất dẫn đến nạn phá rừng, lấn chiếm rừng tự nhiên lấy đất sản xuất trong khi nhiều người đang chiếm giữ một diện tích khá lớn đất được nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, gây bất bình đẳng, thiếu công bằng trong chính sách đất đai.

Theo ông Tâm, cần minh bạch và thể chế hóa quyền hưởng lợi của cộng đồng, hộ gia đình trong nhận rừng tự nhiên là rừng sản xuất, trong đó có quan hệ lợi ích là quan hệ cơ bản, xuyên suốt, nó vừa là động cơ vừa là mục đích cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng của hộ gia đình, chủ đất nhưng hiện nay các chính sách về hưởng lợi trong giao rừng tự nhiên không có tính khả thi, mang nặng tính bảo hộ tài nguyên quốc gia, tài sản nhà nước mà không phát huy được tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của hộ gia đình và cộng đồng, không khuyến khích chủ rừng mạn dạn bỏ vốn đầu tư phát triển rừng.

Về vấn đề lợi ích trong giao rừng cộng đồng cần được mở rộng theo những giá trị mà rừng tự nhiên mang lại trên nhiều khía cạnh như tác dụng phòng hộ, môi trường, cung cấp nguồn nước. Thực tế các văn bản hiện nay đang chú trọng việc chia sẻ tài nguyên hơn là chia sẻ lợi ích và quy định về chia sẻ tài nguyên từ khai thác gỗ rừng tự nhiên để sử dụng hàng năm áp dụng cho hộ gia đình cũng khó áp dụng, cả về điều kiện khai thác, trình tự thủ tục khai thác, năng lực của chủ rừng và phát sinh chi phí; mặt khác, cách tiếp cận về khai thác hưởng dụng từ rừng tự nhiên vẫn còn cứng nhắc từ trên xuống bằng việc giao chỉ tiêu, kế hoạch. Đối với cộng đồng thì không công nhận là chủ rừng nên các văn bản pháp luật về khai thác hưởng dụng rừng không điều chỉnh và không thể hưởng lợi từ rừng, ông Tâm cho biết.

giao rung 2

Ảnh internet

Theo ông Tâm thì giải pháp tình thế nhằm bảo vệ tài nguyên rừng được giao là cần có chính sách hô trợ sau giao rừng cho cộng đồng, hộ gia đình, nhóm hộ nhận rừng tự nhiên nghèo kiệt chưa được hưởng lợi từ rừng, chưa có nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng. Giải pháp lâu dài để cộng đồng, hộ gia đình và nhóm hộ quản lý bền vững tài nguyên rừng được giao là cần ban hành chính sách để người dân được giao rừng sống bằng chính rừng được giao, bằng chính những giá trị mà rừng mang lại cho xã hội.

Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm ở ven biển Bắc miền Trung, có diện tích tự nhiên 503.320 ha, địa hình phức tạp, có nhiều sông suối ngắn nhưng dốc, tốc độ dòng chảy lớn. Toàn tỉnh có 202.552 ha rừng tự nhiên trong tổng số 296.075 ha đất có rừng.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác quản lý bảo vệ rừng, Thừa Thiên Huế đã tiến hành thí điểm công tác giao rừng tự nhiên từ những năm 2000. Năm 2010, UBND tỉnh ban hành Quyết định 430/QĐ-UBND về phê duyệt Đề án giao rừng cho thuê rừng tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2010-2014, đến nay đã giao được 26.775 ha cho các đối tượng là cộng đồng, nhóm hộ và hộ gia đình.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Các tổ chức đối tác quốc tế của VUSTA gửi thư chúc mừng Đại hội XIV thành công tốt đẹp
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức thành công tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã nhận được thư chúc mừng từ Hiệp hội Giáo dục và Hữu nghị châu Á và Liên đoàn các tổ chức kỹ sư Myanmar.
RIC triển khai Dự án hỗ trợ người dân khắc phục sau bão số 10, 11 tại Tuyên Quang
Ngày 22-23/01, Trung tâm RIC - tổ chức KH&CN phi lợi nhuận trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam phối hợp với Tổ chức Plan International Việt Nam tổ chức cấp phát tiền mặt cho tổng số 287 hộ dân thuộc 02 xã: Lao Chải và Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang để khắc phục hậu quả thiên tai do bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơn bão số 10 và 11 năm 2025 gây ra.
Liên hiệp hội TP. Cần Thơ tổng kết hoạt động năm 2025: Khẳng định vai trò nòng cốt của đội ngũ trí thức KH&CN
Ngày 20/1, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Cần Thơ (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị là dịp đánh giá toàn diện kết quả hoạt động của Liên hiệp hội trong năm qua; đồng thời ghi nhận, tôn vinh những tập thể, cá nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố.
Lịch sử các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trải qua 13 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng khẳng định vai trò lãnh đạo, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mỗi kỳ Đại hội không chỉ là dấu mốc chính trị trọng đại của Đảng và dân tộc, mà còn ghi dấu những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên chặng đường xây dựng và phát triển đất nước.