Những văn kiện của triều đình Trung Quốc liên quan đến Việt Nam
Là một nhà Hán học quan tâm đến giai đoạn lịch sử này của dân tộc, ông Hồ Bạch Thảo đã dành nhiều thời gian sưu tập những đạo dụ của các vua nhà Thanh liên quan đến Việt Nam được ban hành kể từ khi Trung Quốc chuẩn bị xâm lược Việt Nam vào tháng 7 năm Càn Long thứ 53 (1788) cho đến những năm đầu trị vì của vua con là Gia Khánh (đến 1802), lúc bấy giờ tuy Càn Long là Thái thượng hoàng. nhưng vẫn còn tham gia quyết định những chính sách lớn.
Cao Tông thực lụclà nhan đề bộ sách được in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, gồm hai tập, mặc dầu trong này dịch giả có trích đăng cả một số đạo dụ trong Nhân Tông thực lục(ban hành dưới triều vua Gia Khánh). Thông thường trong mỗi đạo dụ, khởi đầu nhắc lại lời tâu về thời cuộc hoặc nêu lên một vấn đề cần giải quyết; nhà vua nhân đó phân tích, khen chê, rồi ban quyết định. Để làm việc này, ông Hồ Bạch Thảo phải biên dịch 209 chỉ dụ liên quan đến nước ta, phía Việt Nam thuộc các triều đại vua Chiêu Thống, Quang Trung, Quang Toản cho đến Gia Long. Những đạo dụ đó được xếp theo thứ tự thời gian để tiện việc theo dõi. Cuối sách dịch giả còn lập bảng tra cứu tên người, tên đất, công trình xây dựng gồm 458 mục.
Qua công trình sưu tập này, dịch giả đã rút ra được nhiều nhân xét về tình hình quan hệ giữa hai nước Trung - Việt, cho thấy tiếng vang của chiến thắng Đống Đa dưới sự chỉ đạo của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ đã làm rung động đến Thiên triều, khiến vua nhà Thanh phải nhiều lần thay đổi sách lược đối với nước ta.
Trong buổi đầu can thiệp vào Việt Nam cho đến lúc thua trận, trước sau nhà Thanh đều muốn thôn tính nước ta, nhưng sách lược của vua Càn Long có thay đổi tuỳ theo tình hình mà ta có thể thấy qua các đạo dụ ban hành:
- Khởi đầu là truyền hịch kể tội nhà Tây Sơn, hô hào dân ta phò Lê Chiêu Thống, rồi mang quân vào vùng địa đầu biên giới để hà hơi tiếp sức, nhưng không làm thay đổi được tình hình.
- Tiếp đến sai Tổng đốc Lưỡng Quảng (gồm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây) Tôn Sĩ Nghị làm tổng chỉ huy 4 đạo quân xâm lăng. Chủ trương của quân Thanh là đánh đến cùng, bắt trọn ổ, muốn giành hết thành quả về mình, không chấp nhận đề nghị phối hợp với quân Xiêm cùng đánh vào vùng Thuận Hoá, Quảng Nam, vì sợ phải chia phần.
- Sau khi viên quan Tây Sơn chỉ huy vùng Kinh Bắc tên là Trần Danh Bính trá hàng rồi quay trở lại chống, lại nhận được tin thành Thăng Long đang chuẩn bị chiến đấu, Càn Long bắt đầu chùn chân. Chủ trương đưa ra là sau khi chiếm được thành Thăng Long, nếu gặp khó khăn thì tìm cách rút lui.
- Cặp mắt chiến lược của Càn Long coi thành Thăng Long là chỗ dễ đánh nhất, nếu vua Quang Trung đóng tại đó, coi như con chim đã vào trong “lồng” của y; ngoài ra Càn Long còn cẩn thận soạn ra kế hoạch vượt sông Hồng, gọi là “ám độ”. Nhưng khi vào thành, thì quân Tây Sơn đã rút gần hết. Rồi với thiên tài dùng binh của vua Quang Trung, thành Thăng Long lại trở thành cái “lồng” nhốt quân Thanh. Khi Tôn Sĩ Nghị bị quân Tây Sơn truy kích đã ra lệnh chặt đầu, hành động đớn hèn này đã giết tất cả Đề Trấn dưới quyền cùng phần lớn quan binh.
Thua trận, Càn Long không dám trả thù, mà tìm cách đổ tất cả tội lỗi lên đầu Lê Chiêu Thống. Rồi nhân vua Quang Trung cho người đến quan ải tìm cách giao hảo, Càn Long ra lệnh cho viên tân Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An trước khi viên này tới nhiệm sở, rằng phải thu xếp việc An Nam để khỏi phải chiến tranh. Phúc Khang An đến nơi, biết mình phải làm gì, nên tiếp tục trao đổi chính trị để đi đến chỗ thoả hiệp, thể hiện ở những sự việc sau:
- Vua Càn Long, tác giả cuỗn Thập toàn võ công ký, tuy thua trận nhưng vẫn cố giữ cái danh “thập toàn”, bởi vì An Nam đã chịu qui phụ, lại còn cử một sứ bộ do Quang Trung đích thân cầm đầu (mặc dầu vẫn biết là giả), sang dự lễ bát tuần thượng thọ Càn Long! Về thái độ tự xoa dịu mình của vua Càn Long, chúng tôi đã từng đề cập đến qua việc giới thiệu bộ tranh “An Nam Bình Định chiến đồ” do tự tay Càn Long đề từ (Xưa & Nay các số tháng 7 – 9 – 10 năm 1998).
- Để quảng cáo cho uy thế của Thiên triều, phía Trung Quốc cho đón tiếp sứ bộ An Nam gồm 65 người đi thăm từng tỉnh từ Quảng Tây lên đến Nhiệt Hà, một ngày các viên Tổng đốc sở tại cung phụng tốn đến 4.000 lạng bạc, đi về thong thả trên 7 tháng trời!
- Càn Long đích thân ra lệnh cạo đầu dóc tóc của Lê Chiêu Thống và đám tuỳ tùng và bảo cháu vua Quang Trung là Nguyễn Quang Hiển (trong danh nghĩa sứ bộ của Quang Trung) đến xem quang cảnh Lê Chiêu Thống nay đã biến thành người Mãn Thanh, không còn ý định trở về An Nam tranh quyền với vua Quang Trung nữa.
- Khi nghe tin em Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chi nổi dậy tai Cao Bằng, Càn Long ra lệnh an trí Lê Chiêu Thống và đám tuỳ tùng khắp nước Tàu, bắt ở xen kẻ với dân bản xứ, để đề phòng nhóm người này về nước phục quốc, làm mất lòng vua Quang Trung.
- Mở cửa buôn bán tại biên giới để hàng hoá được thông thương.
Vua Càn Long đóng kịch khen ngợi vua Quang Trung đủ điều, mấy lần tặng thơ Ngự chế; thì cũng bị vua Quang Trung đóng kịch đáp lại với văn từ biểu chương hết sức cung thuận, nhưng ngấm ngầm chiêu dụ dân Tàu lật đổ nhà Thanh, quấy phá tại vùng ven biển; với chiêu bài “Thị thiên hạ như nhất gia, tứ hải nhất nhân” (Coi các nước trong thiên hạ như một nhà, mọi người trong bốn biển đoàn kết nhất trí như một người).
Để giúp cho độc giả có thể tìm hiểu riêng một nhân vật hay một vấn đề, cuối sách dịch giả đã lập một bảng tra cứu công phu. Ta có thể tìm ra 133 chỉ dụ đề cập đến Nguyễn Huệ hoặc Nguyễn Quang Bình [vua Quang Trung], hơn 100 dụ có tên nước ta, hoặc 97 dụ nói tới Phúc Khang An. Ngay những nhân vật hay địa danh ít nổi tiếng như Nguyễn Quang Hiển cũng được nhắc đến trong 10 chỉ dụ, hoặc xã Gia Quất trong 2 chỉ dụ…
Để theo dõi các sự kiện có mạch lạc, các chỉ dụ được xếp theo thứ tự thời gian, trên đầu mỗi dụ ghi ngày tháng năm bằng âm lịch và dương lịch. Dịch giả còn chia thêm cho rõ nghĩa những từ khó hiểu để trong ngoặc, chú thích các tên người và địa danh.
Nhằm giúp cho các nhà biên khảo tiếp cận được với nguyên văn, ông Hồ Bách Thảo đã cho in lại những dụ được giới thiệu bằng chữ Hán. Để làm việc này dịch giả phải lần mò làm photocopy các đạo dụ liên quan đến Việt Nam in kèm với bản dịch. Nhưng bộ Cao Tông thực lụctại Thư viện trường Đại học Princeton, nơi dịch giả dùng để tham khảo, lại nằm trong bộ Thanh thực lục, bao quát Mãn Châu thực lụccùng với 11 triều đại nhà Thanh từ Thái Tổ đến Đức Tông, gồm 4433 quyển, chép những sự việc liên quan đến nội bộ Trung Quốc và nhiều nước lân bang. Do đó việc trích ra những đạo dụ liên quan đến Việt Nam , quả là một công trình đòi hỏi nhiều thời gian không khác chi việc đãi cát tìm vàng.
Chỉ với tấm lòng yêu quốc sử, mong muốn đem lại cho những nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam những tư liệu quí giá, ông Hồ Bạch Thảo mới thực hiện được công trình này. Sinh ngày 5 tháng 12 năm 1940 tại xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, ông Hồ Bạch Thảo đã tốt nghiệp giáo khoa Việt - Hán tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, sau đấy sang định cư tại Hoa Kỳ, làm giảng viên song ngữ tại đại học Jersey City. Sau khi nghỉ hưu, ông Hồ Bạch Thảo đã dành nhiều thời gian nghiên cứu lịch sử Việt Nam, chủ yếu tìm lại các tư liệu trong thư tịch Trung Quốc viết về Việt Nam nhằm bổ sung và đính chính những sự kiện chưa được rõ ràng trong lịch sử nước ta. Ông đã có những công trình biên khảo về Những nét đặc trưng về lịch sử Việt Namvà Cao Tông thực lụcxuất bản tại Hoa Kỳ. Hiện nay ông đã dịch xong các văn bản liên quan đến Việt Nam trong Minh thực lụcvà chuẩn bị xuất bản. Một số bài viết của Hồ Bạch Thảo giới thiệu trên mạng, đã được Xưa và Nayin lại lần đầu tiên từ năm 2005. Để giới thiệu rộng rãi các công trình nghiên cứu của Hồ Bạch Thảo, cuốn Cao Tông thực lụcđang được hoàn thiện bản thảo để in lại tại Việt Nam .
Dụ số 10
Để bạn đọc có thể hình dung giá trị của những văn kiện trong tập sách trên, chúng tôi xin đăng lại một trong những đạo dụ đã được in biên dịch.
Ngày 12 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 [9/11/1788]
Dụ: Theo lời tâu của Sĩ Nghị tự hối về việc truyền hịch và xuất quân chậm trễ; xét ra sự chậm trễ này là do hoàn cảnh khách quan, chớ không phải là không muốn nhanh. Vùng phụ cận biên giới mùa thu này mưa quá nhiều, đường sá không khỏi bị cản trở; nếu điều động quan quân ra khỏi quan ải sớm, cũng không thể tiếp tục tiến để chinh phạt được. Hiện nay trung tuần tháng 10, xứ đó trời quang mây tạnh đã lâu, nhân cơ hội này quan quân tiến gấp, thật hợp thời cơ. Cũng như năm trước Phúc Khang An mang quân dẹp bọn nghịch phỉ ở Đài Loan, phải dừng ở cửa Đại Đảm hơn một tháng để chờ gió; lúc gió tới quan quân tranh thủ ra khơi tại vũng Sùng Vũ, một ngày sau đổ bộ tại cảng Lộc Tồn, đó là bằng cớ rõ ràng về việc thắng nhanh. Hiện nay Tôn Sĩ Nghị truyền hịch, quan binh lục tục tề tựu, trong ngày hội đồng với Hứa Thế Hanh, thống lãnh xuất quan; mong tin chiến thắng đến mau, đệ trình chiến công để nhận ân thưởng.
Nghe lời đồn rằng Nguyễn Huệ nhắn với bọn nguỵ quan Ngô Sở [tức Ngô Văn Sở] những lời như: “Đợi cho quân xuất quan, y sẽ mang quân tới thành nhà Lê hợp đồng kháng cự”. Chẳng qua là Nguyễn Huệ nghe đại binh sắp đến, e bọn Ngô Sở khiếp sợ ôm lòng phản phúc, nên nói lời này để trấn an; đây là do bọn giặc An Nam đưa những lời lừa gạt nhau mà thôi, thật không đủ tin. Nếu Nguyễn Huệ dám đến Lê thành để kháng cự, thừa dịp này quân ta chặn bắt, một lần ra tay hoàn toàn thu hoạch thắng lợi, khỏi dây dưa vất vả, hoá ra đây lại là cơ hội tốt.
Còn như lời đề nghị ban dụ cho Quốc vương Tiêm La [Thái Lan], thừa lúc Thiên binh đánh dẹp tại An Nam, nước họ mang quan tập kích vùng Quảng Nam . Mới nghe qua thì kế này có thể dùng được, nhưng nghĩ kỹ thì đó là hạ sách; bởi vì từ xưa nay cái đạo chế ngự ngoại bang hoàn toàn nhờ uy lớn của Thiên triều, đánh dẹp bình định không thể dựa vào thế lực bên ngoài hỗ trợ. Huống hồ Tiêm La với bọn Nguyễn Huệ đã từng đánh nhau, nay nếu bảo họ phát binh chiếm Quảng Nam, tương lai việc An Nam kết thúc tất phải đem đất Quảng Nam cấp cho Tiêm La. Hiện nay người trong nước loạn, con cháu họ Lê còn tất bạt trốn tránh, dựa vào binh lực Thiên triều; nếu Tiêm La chiếm được Quảng Nam, tiếp giáp với An Nam; lấy thế một nước thôn tính một nước, thì mối hại lại lớn hơn là Nguyễn Huệ gấp bội. Nếu sau này bọn chúng quấy nhiễu An Nam , với thế mạnh nước này chống không nổi, thì phải giải quyết sao đây? Huống Quốc vương Tiêm La Trịnh Hoa xin sách phong, cũng chỉ ban ơn có tính cách hình thức, không xứng đáng khiến vô cớ lại được thêm đất! Thiên triều thống ngự trong ngoài, gần xa đều theo một đường lối, Quảng Nam thuộc vào đất Chiêm Thành xưa, toàn lãnh thổ của nước này nay Nguyễn Huệ chiếm được, chỉ dành một ấp cho Chiêm Thành cư trú. Nếu để Tiêm La ngồi không chiếm Quảng Nam , chi bằng lấy đất cũ của Chiêm Thành trả lại cho Chiêm Thành, lại càng danh chính ngôn thuận. Dân tộc này đang độ điêu tàn, được khôi phục lại đất nước, đội ơn Thiên triều làm việc hưng diệt kế tuyệt vẹn cả hai đường. Chờ cho việc An Nam giải quyết xong Tôn Sĩ Nghị điều tra lại minh bạch xem đất Quảng Nam có thuộc họ Lê không hay Nguyễn Huệ mới chiếm được, cứ thực tâu trình. Hoặc cấp cho Chiêm Thành, lúc đó sẽ nhận được chủ dụ để lo liệu.
Tôn Sĩ Nghị thỉnh cầu sau khi mang quân ra khỏi quan ải, triều đình cử một viên chức thuộc dinh Tuần phủ hoặc Bố chánh đến biên giới lo đốc suất biện lý mọi việc. Nhận thấy Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh trấn nhậm tại Quảng Tây cả năm, biết rõ tình hình xứ này; nay truyền cho viên này sắp xếp công việc ở viện Vũ Vi xong, đến ngay biên giới để coi sóc mọi việc; trách nhiệm tại tỉnh tạm giao cho viên Bố chánh Anh Thiện lo liệu.
Dịch nghĩa:
Phú Lương là môn hộ của Lê thành
Bọn chúng tuy có thành luỹ kiên cố nhưng hoảng hốt.
Vài chiếc thuyền xông vào quả là hùng tráng.
Quả là anh dũng thật đáng tiếc.
Lấy lại nước cho một ông vua nhưng không giữ được.
Lập đền cho ba tướng mãi mãi lưu tiếng thơm
Báo đáp cho kẻ trung, cúi đầu quy thuận tuân theo vương đạo
Không còn việc chiến tranh chẳng hay lắm sao?
(Ngự bút của vua Càn Long vào tháng 8 năm Kỷ Dậu)
Nguồn: Xưa & Nay, số 274, 12-2006, tr.6








