Những thách thức đối với người phụ nữ làm khoa học
Nhìn vào tiến trình lịch sử, chúng ta có thể thấy đóng góp của phụ nữ Việt Nam được thể hiện chủ yếu trên các lĩnh vực sau: Lòng yêu nước, trong đó nổi bật là sức mạnh và ý chí chống giặc ngoại xâm; Sự đảm đang trong lao động, sản xuất; Xây đắp những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc; Là hạt nhân chủ yếuđể cố kết cuộc sống gia đình, quan hệ huyết thống, dòng họ và làng xã; Lực lượng lưu giữ, truyền bá những giá trị văn hóa dân tộc từ đời này qua đời khác.
Nhìn vào 5 lĩnh vực đóng góp trên của phụ nữ, có thể thấy rằng: Phải chăng xuất phát từ đặc thù xã hội Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu bị thống trị bởi tư tưởng Nho giáo với những yêu cầu và đòi hỏi khắt khe đối với phụ nữ về “công, dung, ngôn, hạnh” mà thực chất và chủ yếu là những quy định, chuẩn mực trong quan hệ gia đình, dòng tộc theo kiểu thứ bậc, tôn ti mà hàng nghìn năm ở Việt Nam hầu như không có một truyền thống nghiên cứu khoa học nữ. Nếu có người phụ nữ trí thức ở thời kỳ đó thì phần lớn xuất thân từ tầng lớp trung lưu và thượng lưu của xã hội, nhưng tư tưởng Nho giáo, tư tưởng “nam tôn nữ ti” lại đã ăn sâu vào tiềm thức của họ nên phạm vi nghiên cứu những vấn đề khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật luôn đứng ngoài tầng lớp phụ nữ này.
Từ đầu thế kỷ XX, do tác động nhiều mặt của văn hóa phương Tây, đặc biệt từ khi xuất hiện Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, trong đó có cả giải phóng phụ nữ, người phụ nữ đã vượt qua áp lực nặng nề của những thế kỷ trước, dần xuất hiện những cá nhân và tiến tới một bộ phận, một nhóm người hình thành về mặt xã hội, có ý thức và năng lực đi vào các lĩnh vực khoa học. Đặc biệt sau Cách mạng tháng Tám và sau thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ những cá nhân đã trở thành một đội ngũ cán bộ khoa học nữ Việt Nam hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực khoa học và đã đạt được những thành tựu xuất sắc trên các lĩnh vực khoa học, giáo dục, y tế, khoa học xã hội và nhân văn…
Có thể thấy rằng sự nghiệp giải phóng phụ nữ trong mấy chục năm qua ở Việt Nam đã có những thành tựu đặc sắc, hiếm có so với một số nước trong khu vực. Trước hết phải nhấn mạnh hai thành tựu sau: Đó là sự tham gia đông đảo của phụ nữ vào các lĩnh vực hoạt động chính trị, xã hội, cách mạng và sự hình thành lớn mạnh một đội ngũ chuyên gia khoa học nữ có nghị lực, có tài năng, điều mà hàng chục thế kỷ trước chưa hề có.
2. Trong quan niệm đối với một gia đình truyền thống Việt Nam, sự hình thành những hoạt động khoa học nữ trong quan hệ với gia đình là điều hoàn toàn mới vì đã hàng nghìn năm, ở Việt Nam chỉ có hai hệ thống gia đình phổ biến.
Hệ thống gia đình nông thôn: Gắn liền với ruộng vườn và những phong tục làng, xã. Trong môi trường này, người phụ nữ là thành viên không được xác định như một tư cách cá thể với những nhu cầu và năng lực riêng. Không có sự phân biệt về ngành nghề, năng khiếu mà chỉ là một thành tố trong gia đình nông nghiệp.
Hệ thống gia đình phong kiến: Khi hệ tư tưởng Nho giáo chiếm địa vị thống trị thì, về cơ bản, người phụ nữ sống trong khuôn khổ và quy định chặt chẽ của lễ giáo nên dù có manh nha xuất hiện những nhu cầu về tinh thần, về giải phóng tình cảm cá nhân nhưng cũng không đủ để khẳng định là một lực lượng xã hội.
Như vậy, nếu so với sự phát triển gia đình ở châu Âu, thì với loại gia đình truyền thống ở Việt Nam, người phụ nữ không có vị trí riêng kéo dài cho đến đầu thế kỷ XX, trong khi đó, loại gia đình này ở châu Âu dường như đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX và đã xuất hiện loại gia đình trong đó người phụ nữ có sự nghiệp riêng cùng với người chồng tạo nên “một gia đình hai sự nghiệp”. Trong mấy chục năm trở lại đây, loại gia đình mà các nhà nghiên cứu về phụ nữ châu Âu gọi “một gia đình hai sự nghiệp” đó mới bắt đầu hình thành ở Việt Nam, chưa mang tính phổ biến, chưa định hình, xét về mặt phát triển, với những chuẩn mực và đặc điểm của nó. Để tìm hiểu hoạt động của chuyên gia khoa học nữ ở Việt Nam , cần xuất phát từ đặc điểm quan trọng này.
3. Những biến động trong chức năng và cấu trúc gia đình Việt Nam hiện nay đã được nghiên cứu khá nhiều trong thời gian gần đây. Chúng tôi chỉ nhìn nhận vấn đề đó trong sự tương tác với hoạt động khoa học nữ, tìm hiểu những tác động tích cực và tiêu cực của nó đối với người phụ nữ làm khoa học trong quan hệ gia đình.
Trước hết, đó là sự rạn nứt trong cơ cấu và chức năng gia đình truyền thống đang xảy ra, đồng thời nhu cầu bảo vệ, giữ gìn những tố chất đặc biệt bền vững của gia đình truyền thống lại như một động lực chống lại sự rạn vỡ đang xảy ra đó. Đây là một mâu thuẫn mới diễn ra thầm lặng nhưng khá dữ dội với gia đình Việt Nam, đặc biệt đối với những gia đình ở thành thị, những gia đình có “hai sự nghiệp” trên các lĩnh vực hoạt động khoa học và kinh tế.
Từ đặc điểm mang tính khách quan, cần nghiên cứu yếu tố tích cực và tiêu cực tác động đến hoạt động của các nhà khoa học nữ đang diễn ra theo chiều hướng khác nhau trong xã hội Việt Nam hiện đại.
Trong điều kiện ấy, xét về mặt tinh thần, tâm lý, đa số các nhà khoa học nữ đều chịu tác động từ hai phía. Một mặt, khao khát bộc lộ năng lực cá nhân mình trong xã hội như một cá thể độc lập. Mặt khác, muốn bảo vệ chức năng và cấu trúc gia đình truyền thống. Như thế, một mâu thuẫn lớn đặt ra đối với người phụ nữ làm khoa học và đối với loại “một gia đình hai sự nghiệp” đang hình thành khá nhanh ở nước ta và chắc chắn vấn đề đó còn diễn ra trong nhiều năm của thế kỷ XXI.
4. Tìm hiểu các chiều hướng khác nhau đang xuất hiện trong quan hệ gia đình với người phụ nữ làm khoa học của xã hội hiện đại là vấn đề lớn đòi hỏi nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi có sự hoạt động của họ. Ở đây, từ góc độ cảm nhận ban đầu, chúng tôi trình bày những suy nghĩ về các chiều hướng đang hình thành đó. Do mối quan hệ này chưa định hình, đang trong quá trình biến động phức tạp nên các chiều hướng được nêu ra là mang tính dự báo khách quan mà không nhằm đánh giá về mặt tiêu cực, tích cực của nó và không xem xét về mặt đạo đức.
Chiều hướng thứ nhất: Những cán bộ khoa học nữ cô đơn không gia đình. Hiện tượng này chưa nhiều nhưng đã xuất hiện. Một số phụ nữ ngay từ khi còn trẻ, thời còn học ở trường Đại học đã có những khát vọng và niềm say mê ở một số lĩnh vực khoa học, miệt mài đeo đuổi nghiên cứu và đã tạo được một số kết quả nhất định. Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau (tuổi tác, tâm lý, niềm đam mê nghiên cứu khoa học) mà họ không đi tới việc thành lập gia đình riêng. Phải chăng do khuynh hướng phát triển thiếu sự hài hoà của các cán bộ khoa học nữ này đã dẫn tới sự thiếu hụt trong cuộc sống gia đình. Đã từng nghe nói xuất hiện hiện tượng này ở một số nước châu Á. Xin được không đánh giá sự xuất hiện của chiều hướng này nhưng từ góc độ xã hội nhìn nhận, đây không phải là vấn đề cá nhân của những phụ nữ sống cô đơn mà là một hiện tượng xã hội, một vấn đề của cộng đồng. Liệu rằng có phụ nữ nào có một niềm vui duy nhất là sự khẳng định mình chỉ trên lĩnh vực khoa học không?
Chiều hướng thứ hai: Trong quan hệ ở những gia đình hiện nay có một thành viên làm khoa học là phụ nữ thì lại xuất hiện các dạng khác nhau. Khi người cán bộ khoa học nữ say mê, chuyên tâm cho lĩnh vực chuyên môn, đã không điều chỉnh thời gian và sự quan tâm cho cuộc sống gia đình riêng, điều đó dẫn đến một thách thức nặng nề là họ đã “đánh mất gia đình” và dù người phụ nữ có chịu đựng tất cả để tiếp tục công việc khoa học thì hậu quả của nó nhiều khi lại cũng dẫn đến chấm dứt sự nghiệp khoa học.
Ở một dạng khác, kết cấu gia đình trở nên lỏng lẻo khi cả “hai sự nghiệp” trong một gia đình đều có nhu cầu phát triển mạnh, nhân tố cố kết gia đình bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Sự giao lưu trong gia đình ngày càng ít đi trong khi nhu cầu của từng thành viên, do áp lực của cuộc sống sôi động trong xã hội hiện đại, tăng lên. Đây là dạng đang diễn ra rất phổ biến trong loại “một gia đình hai sự nghiệp”, đặc biệt ở những gia đình có người phụ nữ tham gia hoạt động xã hội, khoa học.
Chiều hướng thứ ba: Trong quan hệ giữa gia đình và người cán bộ nữ làm khoa học của xã hội hiện đại cũng đã xuất hiện những dạng gia đình có sự phát triển cân đối thông qua khả năng xử lý đúng mức và sự đồng cảm của các thành viên trong gia đình. Kiểu mẫu gia đình này gắn kết giữa truyền thống và nhu cầu của cuộc sống hiện đại tạo điều kiện cho sự phát triển hợp lý của các thành viên, biết quan tâm đến nhu cầu và sự đồng cảm của gia đình cũng như cộng đồng.
Tất nhiên sự hình thành này đang ở giai đoạn đầu vì chưa ai hình dung được sự diễn biến phức tạp của gia đình Việt Nam ở thế kỷ XXI. Trong loại gia đình này không nhấn mạnh một thành tố nào và phải tạo được sự đồng cảm của từng cá nhân trong gia đình với một mục tiêu lớn là sự phát triển. Vì khi xác định vai trò người phụ nữ trong gia đình, không thể chỉ nói đến nhu cầu làm khoa học của người phụ nữ đó mà phải nhận hay quên đi vai trò của họ với tư cách và chức năng làm mẹ, làm vợ. Ở dạng gia đình này, người phụ nữ phải chấp nhận giảm đi những nhu cầu giải trí, du lịch, tham quan như một sự hy sinh sở thích riêng, nhưng bảo toàn được niềm vui, hạnh phúc gia đình, cũng chính là đang tạo ra sự bình yên cho xã hội.
Từ khía cạnh này, có thể thấy gần đây trong xã hội Việt Nam đang có xu hướng đề cao, tuyệt đối hóa những hưởng thụ vật chất, những nhu cầu cá nhân vượt quá các chuẩn mực và quan niệm đạo đức thông thường, coi đó là danh giá, là duy nhất để khẳng định và “giải phóng” phụ nữ. Như vậy, phải chăng quan niệm đó xuất phát từ việc chưa nắm bắt được những vấn đề cơ bản nhất thuộc về phẩm chất, vị trí, trách nhiệm của người phụ nữ trong xã hội hiện đại.
5. Đối với người cán bộ khoa học nữ, nếu xử lý đúng mối quan hệ giữa gia đình và sự nghiệp nghiên cứu sẽ là niềm vui, là biểu hiện cao nhất nhân cách văn hóa của họ. Đây cũng là đòi hỏi của xã hội Việt Nam hiện đại, đồng thời cũng là thách thức mới và lớn đối với một dạng gia đình ở Việt Nam trong thời kỳ mới, thế kỷ XXI.
Từ những vấn đề đã nêu trên, chúng tôi cho rằng: Đảng và Nhà nước khi nghiên cứu về phụ nữ, ngoài hệ thống chính sách để giải phóng và tạo sự bình đẳng chung của người phụ nữ thì chưa có một điều luật đặc trưng nào nhằm giải quyết và giúp đỡ cho mối quan hệ mới đang hình thành trong gia đình Việt Nam: người phụ nữ làm khoa học trong quan hệ với gia đình. Hàng năm, Nhà nước chủ trương trao phần thưởng Kôvalevxkaia cho các chuyên gia khoa học nữ có những thành công đặc biệt, nhưng đó chỉ là phần thưởng cho kết quả nghiên cứu thầm lặng của họ chứ chưa phải là một chính sách để thúc đẩy sự phát triển của công tác nghiên cứu khoa học nữ. Cần có những chính sách đặc thù về vật chất, phương tiện, điều kiện sử dụng thời gian lao động đối với các cán bộ khoa học nữ, đặc biệt là những người đã được xác định vị trí cao trong các lĩnh vực hoạt động của họ.
Trong gia đình Việt Nam hiện đại, người cán bộ khoa học nữ, dù phát triển đến mức nào, vẫn là hạt nhân cố kết của gia đình, do đó yêu cầu khách quan đòi hỏi phải tạo ra được sự phát triển hài hoà nhân cách người phụ nữ Việt Nam hiện đại cả về mặt cá nhân và xã hội, cả về mặt phát triển năng lực khoa học và sự phong phú của nhân cách người mẹ, người vợ. Ở đây, ngoài những chính sách cần thiết của Đảng và Nhà nước, trong gia đình, vai trò của người chồng có vợ làm công tác khoa học giữ vị trí hỗ trợ đặc biệt quan trọng về mặt trí tuệ, tinh thần, vật chất. Đặc điểm này không chỉ đối với từng gia đình mà còn liên quan đến xã hội để tạo cho loại “một gia đình hai sự nghiệp” phát triển bền vững ở Việt Nam . Tham khảo một số tham luận khoa học của các nhà nghiên cứu các nước về phụ nữ, chúng tôi biết họ đều coi đây là vấn đề quan trọng tác động đến sự nghiệp, nhân cách người phụ nữ làm khoa học. Ở Việt Nam , cho đến nay, vẫn chưa có sự nghiên cứu hệ thống về vấn đề đặc thù này. Vì vậy, cùng với việc nghiên cứu những chiến lược chung về phụ nữ, nhất thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề “giới”, về gia đình trong quan hệ với lực lượng phụ nữ làm khoa học.
Là hạt nhân cố kết của gia đình, tạo ra được sự phát triển hài hoà giữa vai trò làm mẹ, làm vợ và làm khoa học, đó chính là nhân cách văn hóa của người phụ nữ làm khoa học trong chiến lược phát triển con người ở thế kỷ XXI.
Nguồn: Vanhoanghethuat.org.vn/2007.05








