Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 21/10/2011 19:34 (GMT+7)

Những thách thức của tài nguyên nước trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên

Ở Tây Nguyên hiện có 2/4 thành phố (TP. Kon Tum và TP. Buôn Ma Thuột); 3/5 thị xã cùng nhiều thị trấn, thị tứ, khu dân cư tập trung nằm ở ven các sông chính của khu vực như sông Sê San, sông Ba, sông Sêrêpôk và các phụ lưu lớn của thượng nguồn sông Đồng Nai. Do đó, nước cho sản xuất, sinh hoạt của người dân Tây Nguyên nói chung, người dân ở các đô thị của Tây Nguyên nói riêng phụ thuộc rất lớn vào lượng nước và chất lượng nước của các dòng sông, con suối này. Thực tế nhiều năm qua, tài nguyên nước đã trở thành lợi thế của Tây Nguyên để khu vực này đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, dù là khu vực được đánh giá có lượng nước dồi dào, chất lượng nước tốt nhưng nguồn nước của Tây Nguyên cũng đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm do tác động của nhiều yếu tố.

Biến đổi khí hậu làm thay đổi quy luật phân phối dòng chảy

Tác động tiểm ẩn của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước trước tiên là ở sự phân phối dòng chảy năm của các sông suối ở Tây Nguyên. Trong vòng 10 – 15 năm trở lại đây, các ghi nhận cho thấy tổng lượng nước mà các con sông chuyên chở ra khỏi Tây Nguyên không thay đổi nhiều nhưng dòng chảy mùa và dòng chảy năm lại có những thay đổi đáng kể. Khoảng cách chênh lệch về lượng dòng chảy giữa mùa lũ và mùa cạn; giữa tháng có lũ và tháng không có lũ có xu thế tăng dần. Do đó mà tình trạng lũ lụt do quá dư thừa nước; hạn hán nghiêm trọng do thiếu nước xuất hiện ngày càng nhiều và khốc liệt hơn.

Khai thác khoáng sản làm ô nhiễm nguồn nước

Khoáng sản thường được phát hiện ở những khu vực gần thượng nguồn của các dòng sông. Do đó, hoạt động khai khoáng có thể đe dọa đáng kể đến sông suối và nguồn nước theo nhiều cách khác nhau. Ô nhiễm kim loại nặng xuất hiện khi một số kim loại (như asen, coban, đồng, chì và bạc) từ các quặng được khai thác hoặc từ các hầm mỏ thoát ra và hòa tan trong nước. Quá trình ô nhiễm xuất hiện khi các chất hóa học như xyanua được sử dụng để tách các khoáng chất cần thiết ra khỏi quặng bị rò rỉ hoặc ngấm từ các khu mỏ ra các nguồn nước gần đó. Thậm chí, để tiết kiệm chi phí, các công ty khai thác khoáng sản có thể còn chủ tâm đổ thải vào các thủy vực.

Hiện tượng ô nhiễm và lắng đọng trầm tích ở các sông do khai thác khoáng sản còn có thể đe dọa đến đa dạng sinh học trong các lưu vực, đe dọa đến sức khỏe của người dân gần đó, và xa hơn nữa là làm ảnh hưởng đến các cộng đồng sống phụ thuộc vào nguồn nước. Các chất thải có thể làm nhiễm bẩn các nguồn nước dự trữ khác như các túi nước ngầm, hồ, ao. 

Phá rừng ảnh hưởng đến nguồn nước

Rừng góp phần giữ ổn định nguồn cấp nước, giảm thiểu nguy cơ hạn hán cũng như lũ lụt; giúp cân bằng dòng chảy cố định cho các hệ sinh thái và các trung tâm đô thị. Nạn chặt phá rừng làm biến đổi mạnh nguồn nước theo chiều hướng gia tăng lũ lụt trong mùa mưa, cạn kiệt trong mùa khô. Năm 2009, Tây Nguyên chứng kiến trận lũ lịch sử trên sông Sê San. Một phần của TP. Kon Tum nằm bên dòng Dak Bla (một nhánh sông của hệ thống sông Sê San) bỗng chốc tan hoang bởi dòng nước lũ. Năm 2011, khi mùa khô mới chớm vào thời kỳ cao điểm thì cũng tại nơi này đã có hàng trăm hộ gia đình thiếu nước sinh hoạt do hạn hán. Mất rừng, đất không có sự che chở của cây đã bị bào mòn, rửa trôi mạnh nên hàm lượng các chất rắn chuyển vào trong nước gia tăng mạnh. Ở Tây Nguyên, mỗi năm nước mưa đưa xuống dòng chảy sông suối 167 triệu tấn đất, trong đó có tới 3,32 triệu tấn hữu cơ và 0,2 triệu tấn đạm cùng hàng trăm ngàn tấn lân và kali - đây cũng là nguồn các chất gây ô nhiễm cho nước mặt và nước ngầm. Đất bị mất sự che chắn của cây rừng còn làm cho mức độ thấm ngấm và khả năng giữ nước giảm mạnh đồng thời tăng lượng bốc hơi bề mặt nên lượng nước ngầm tầng nông bị suy thoái và biến động khá lớn giữa các mùa trong năm, mà trong đó sự tụt giảm nhanh trong mùa khô có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

Con người tự đánh mất nguồn tài nguyên nước của mình

Bàn tay con người gây thay đổi rõ nhất là trong xây dựng các công trình thủy điện. Các công trình thủy điện thiếu quy hoạch, thậm chí "bùng nổ" thủy điện nhỏ trên đầu nguồn các lưu vực sông đã tàn phá mặt đệm, lớp phủ rừng; khi đi vào vận hành lại không bảo đảm quy trình vận hành hồ, liên hồ hợp lý, không bảo đảm cắt giảm lũ, không duy trì hợp lý dòng chảy sinh thái ở hạ du các hồ chứa; khai thác, sử dụng nước thì chủ yếu theo yêu cầu phát điện với chế độ làm việc theo giờ cao điểm, ngừng phát điện trong giờ thấp điểm dùng điện đã làm cho chế độ, số lượng nước ở hạ lưu công trình có những thay đổi căn bản so với trong tự nhiên theo chiều hướng rất bất lợi, làm phát sinh nhiều vấn đề về tài nguyên nước và môi trường mà vốn chưa bao giờ thấy trong thời kỳ trước khi có công trình.

Ở Tây Nguyên, quá trình đô thị hóa đang phát triển khá nhanh đã khiến một lượng lớn dân cư tập trung về các đô thị học tập, làm việc và sinh sống. Các khu công nghiệp, thương mại, giao thông phát triển mở rộng; các khu dân cư, chợ, bệnh viện, trường học mới mọc lên kéo theo sự gia tăng chất thải dễ gây ô nhiễm môi trường và ô nhiễm nguồn nước. Ở khu vực nông thôn, các loại phân bón hóa học, các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ… mặc dù độ hòa tan thấp nhưng các thuốc sâu clorua hữu cơ là độc hại và chỉ cần vài phần tỷ cũng đã trở thành độc hại cho người và sinh vật sống trong nước.

Điểm qua những tác nhân chính đã thấy tài nguyên nước của Tây Nguyên đang đứng trước những nguy cơ suy thoái khá rõ ràng. Nguồn nước cung cấp cho các đô thị của Tây Nguyên nói riêng, các đô thị và cộng đồng dân cư khác hưởng chung nguồn nước từ Tây Nguyên nói chung sẽ không còn đủ, không còn sạch nếu không có nhận thức đầy đủ về những thách thức tiềm tàng đã và đang tác động không tốt tới nguồn nước, cũng như không có những giải pháp hoá giải hiệu quả những thách thức đó.

Trước hết, cần có các biện pháp, chế tài, và các phương pháp tối ưu áp dụng cho từng đối tượng để hạn chế nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước. Đối với nhân dân (các hộ gia đình, cụm dân cư, khu tập thể) cần có các biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng, đồng thời khuyến khích, hỗ trợ giúp nhân dân xây dựng hệ thống thu gom, tách, xử lý nước thải trong sinh hoạt và chăn nuôi; phân loại, chôn lấp rác thải, không xả nước, rác thải trực tiếp và nguồn nước. Trong sản xuất cần khuyến khích, hướng dẫn nhân dân chọn các giống cây trồng có tính kháng bệnh cao; bảo vệ mùa màng bằng biện pháp sinh học; nghiên cứu ứng dụng các biện pháp chăm bón theo hướng giảm phân bón hóa học, thuốc trừ sâu; chế biến chất thải thành các sản phẩm vi sinh,... Đối với công tác quy hoạch, xây dựng, vận hành sản xuất công nghiệp, chế biến cần thực thi nghiêm túc luật bảo vệ môi trường bằng việc kiểm soát chặt chẽ quá trình quy hoạch phát triển đô thị, các khu công nghiệp, các nhà máy để kịp thời phát hiện tác nhân và nguy cơ gây ô nhiễm. Đánh giá khả năng phát tán và có biện pháp hữu hiệu để từng bước cải thiện môi trường nhất là vấn đề cấp thoát nước, vấn đề xử lý các chất thải. Yêu cầu các nhà máy phải xử lý nước, rác thải trước khi thải ra môi trường. Điều chuyển các nhà máy, bệnh viện có khả năng gây ô nhiễm ra nơi ngoại thành, xa khu dân cư và xa nơi đầu nguồn nước. Thay đổi công nghệ sản xuất sạch, dùng nước khép kín, giảm lượng khí thải; nhất thiết phải kiểm tra chất lượng nước, khí thải trước khi thải ra môi trường.

Cải tiến các phương pháp quản lý khai thác sử dụng tài nguyên nước. Tổ chức điều tra, khảo sát tính toán hiện trạng nguồn nước; những nhân tố tác động đến sự biến động nguồn nước theo không gian, thời gian; nhu cầu nước hiện tại và dự báo nhu cầu dùng nước trong tương lai. Có biện pháp phục hồi, sửa chữa, nâng cấp những hệ sinh thái nước, chống thoái hóa, xuống cấp nguồn nước. Thường xuyên đo đạc chất lượng nước trên các sông suối, các hồ chứa (kể cả hồ nhân tạo và hồ tự nhiên) và có những nghiên cứu đầy đủ về tác động của nó tới sự biến động của tài nguyên nước mặt và nước ngầm, đến môi trường, qua đó đánh giá xác thực mức độ tác động, sự nhiễm bẩn môi trường nước trên từng khu vực, từng vùng, các ảnh hưởng tới vệ sinh, sức khỏe con người, năng suất cây trồng cũng như các hoạt động kinh tế khác. Khuyến cáo nhân dân hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời hướng dẫn họ sử dụng các loại phân bón sinh học, các loại thuốc trừ sâu sinh học tạo ra những thiên địch diệt trừ sâu hại cây trồng. Tăng cường công tác khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng. Có các biện pháp chấm dứt tình trạng đào bới khai thác sa khoáng bừa bãi. Các gia đình phải có hệ thống thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt. Các hố xí phải xây đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, hợp vệ sinh, dùng các chế phẩm sinh học để khử các mùi hôi thối và độc hại. Đầu tư cho công tác thăm dò, quy hoạch xây dựng hệ thống khai thác nước ngầm cung cấp nước sinh hoạt theo hướng công nghiệp, bảo đảm an toàn vệ sinh khi đến tay người sử dụng; hạn chế dần tình trạng khai thác nước ngầm tự phát,…

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.