Những người chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam
Thực ra từ tháng 7 năm 1926, khi mãn Hạ tại chùa Long Phước, tỉnh Trà Vinh, Nam lỳ, cư sĩ Huỳnh Thái Cửu rước chư tôn túc đến thăm nhà mình. Trong diễn văn đón tiếp ông đề nghị phải tiến hành “Sửa đạo” tức khơi mào chấn hưng Phật giáo, mọi người rất quan tâm tới đề nghị này. Sang tháng 8, khi khai trường gia giáo tại chùa Long Phước, các sư đem chuỵên Sửa đạo ra bàn và khẩn thiết đề nghị Hòa thượng Khánh Hòa và Hòa thượng Huệ Quang nên thực hiện sớm lời đề nghị của cư sĩ Huỳnh Thái Cửu. Có thể nói đây là nơi khởi đầu chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam . Nhưng kêu gọi và vận động chấn hưng Phật giáo trên báo chí thì phải ghi công cho các vị sau đây:
Ngày 05 tháng 01 năm 1927, ông Nguyễn Mục Tiên, một ký giả quen thuộc của nhân dân Sài Gòn trên tờ Đông Pháp Thời Báosố 529 đã viết bài kêu gọi “Nên Chấn hưng Phật giáo ở nước nhà” trước sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài, ông viết: “Trót một thế kỷ nay nòi giống ta đã bị một cái đại tôn giáo khác kia làm mất cả tinh thần đức tính của ông cha ta, chia rẽ đồng bào ta ra... ta lẽ nào lại chưa tỉnh ngộ còn muốn rước thêm chế thêm đạo mới”. Ông cho rằng người Việt Nam muốn mạnh về đường tinh thần... nên vãn hồi lại lý tưởng cổ, tín ngưỡng cổ đã từng nuôi nấng làm mạnh làm sống mấy đời ông bà ta. Phật giáo đã có công gây dựng một phần to trong đấy. Ông đề nghị các nhà thức giả trong nước, nhất là những người có mấy mươi đời đã sùng bái đạo Phật hãy mở cuộc điều tra về tình hình tôn giáo ở nước ta và tiến hành gây dựng vãn hồi lý tưởng. Nếu ai có ý kiến hay mà giúp cho chấn hưng Phật giáo hãy mau đăng trên báo Đông Pháp.
Khác với Nguyễn Mục Tiên chỉ kêu gọi chấn hưng Phật giáo chung chung mà không đề ra nội dung chấn hưng là gì, sư Thiện Chiếu ở Linh sơn tự (Sài Gòn) một người có trình độ cả về Phật học lẫn tiếng Hán, tiếng Pháp, trên Đông Pháp Thời báo số 532 ra ngày 14 tháng 01 năm 1927, đã viết bài Chấn hưng Phật giáoở nước nhà. Sau khi giới thiệu lược sử Phật giáo Việt Nam trước đây và nêu rõ đạo Phật Việt Nam ngày nay suy vi bởi hai nguyên nhân: Tăng giới không chịu chuyên tâm về đường học vấn; Phật lý không rõ rệt nên những kẻ tại gia tín ngưỡng phần nhiều là mê tín, chư tăng chỉ vì mình không biết tự giác mà cứ ỷ lại, gây cản trở cho đường tiến hóa nước nhà. Ông hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Mục Tiên và đề xuất chấn hưng Phật giáo (CHPG) theo ba cách sau: 1) Lập Phật học báo quán cho dễ truyền bá Phật lý được vãn hồi lấy tính thần và trừ khử những điều mê tín; 2) Lập Phật gia công học để đào tạo ra những bậc có tư cách đứng đắn để truyền giáo về sau; 3) Dịch kinh Phật ra tiếng ta để cho Phật giáo nước ta sau này khỏi sợ đến thất nguyên. Giáo thụ Thiện Chiếu đề nghị: “Xin các ngài trí thức nước ta ai có lòng muốn CHPG nước nhà - đứng ra tổ chức một Hội Chấn hưng Phật học liên hiệp những người nào trong Tăng đồ đã biết nghĩa vụ và trách nhiệm của mình thi hành 3 cách trên.
Tỷ khiêu tự Lai (Tâm Lai - một người bán thế xuất gia), trụ trì chùa Tiên Lữ tục gọi chùa Hang, làng An Thái, đồng điền Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong một lần về Hải Phòng được chứng kiến đạo Cao Đài đã lan ra tới thành phố cảng và được đọc bài Nên chấn hưng Phật giáoở nước nhà của ông Nguyễn Mục tiên đăng trên ĐPTB số 529 ra ngày 05 tháng 01 năm 1927, sư ông Lai lấy làm phát phẫn viết bài kêu gọi CHPG trên tờ KHNB số 1640 ra ngày 16 tháng 01 năm 1927 với một chương trình 3 điểm: 1) Lập giảng đàn trong chùa; 2) Mở các trường (Sơ học yếu lược, Sơ đẳng tiểu học) bên cạnh các chùa đón các thầy bên ngoài vào dạy, chỉ thêm mỗi buổi học 10 phút giảng kinh Phật; 3) Lập nhà nuôi kẻ khó, thu các người tàn tật đói khó vào nuôi, dạy cho nghề nghiệp sinh nhai, làm nhà bảo cô thu các trẻ em mồ côi vào nuôi cho ăn học.
Chúng tôi xin lưu ý rằng: báo chí từ Nam ra Bắc lúc đó nhanh nhất cũng phải mất từ 3 - 5 ngày, mà từ Hải Phòng gửi lên Đồng Bẩm cũng không dưới 10 ngày nữa. Sau khi được đọc bài của Thiện Chiếu, ngày 28 tháng 01 năm 1927, trên tờ KHNB số 1650, trong bài Lại bàn việc CHPGsư ông Lai cho rằng: “CHPG thì một ý, có cái thủ tục thì hơi khác” và ông đưa ra chương trình 7 điểm. 1) Lập giảng đàn trong các chùa để giảng kinh, giảng sách Phật cho các nhà thiện tiến; 2) Mượn các nhà văn sĩ thông Hán học dịch kinh sách Phật bằng chữ Hán ra quốc văn; 3) Mượn các nhà Pháp học dịch các kinh sách Phật bằng chữ Pháp ra Quốc ngữ; 4) Lập ra trong mỗi chùa một cái thư viện; 5) Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi kẻ khó cho làm các công việc; 6) Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi người tàn tật và nhà cho thuốc cho kẻ đau ốm; 7) Lập ra ở bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi trẻ con mồ côi.
Sư Tâm Lai không nhất trí với Thiện Chiếu ở hai điểm: 1) Không cần lập Phật học báo quán mà chỉ cần nói với một tờ báo có thiện ý cho thuê 2 trang phụ trương đăng các bài báo về CHPG, đạo Phật do tăng sĩ cư sĩ các nơi gửi đến; 2) Không thành lập Phật gia công học hội vì các sơn môn đều có 3 tháng Hạ là những tháng để cho sữ học kinh Phật, chỉ cần học thêm chữ Quốc ngữ đem kinh sách về dịch là đủ. Sư ông Lai đề nghị Thiện Chiếu: “nếu định thực hành thì xin sư huynh liên lạc các sư từ Nam ra Trung, tôi sẽ liên lạc các sư từ Bắc vào Trung. Ta họp tất cả các sơn môn trong nước lại lập ra một Hội chia ra làm 3 chi, mỗi chi có một ông chi hội tổng trưởng, đặt ra 3 chi hội quán ở 3 nơi chùa to nhất trong 3 thành phố Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Cùng nhau ta hợp sức mà làm các công việc đã định”.
Được tin ngoài Bắc có người khởi xướng CHPG với chương trình cụ thể, Hòa thượng Khánh Hòa cử Giáo thụ (GT) Thiện Chiếu ra Bắc gặp các sơn môn ngoài đó bàn việc thành lập Việt Nam Phật giáo Hội. Tháng 5 năm 1927, GT Thiện Chiếu ra tới Hà Nội đến yết kiến Tăng cương Đỗ Văn Hỷ - sư cụ trụ trì chùa Bà Đá (Linh Quang tự) xin phép lên gặp sư Tâm Lai (sư ông Lai vốn là một đệ tử của tổ đình này). Thấy một nhà sư Nam kỳ mặc phẩm phục khác hẳn các sư ngoài Bắc, đột ngột xuất hiện nói năng quyết liệt, lại không đưa pháp giới, sư ông Lai chỉ ngồi nghe mà không dám bộc bạch chương trình CHPG của mình vì ông vừa bị người khác vu cáo làm chính trị nên rất cẩn trọng trong việc tiếp xúc với người ngoài. Hai người ngồi với nhau một đêm mà không tìm được tiếng nói chung.
Những người khởi xướng CHPG ở hai miền đã không hiểu nhau, chưa đoàn kết với nhau, chưa thống nhất chương trình hành động, các tổ đình lớn ở Hà Nội như Bà Đá, Hòa Giai, Vũ Thạch... chịu ảnh hưởng của HT Đinh Xuân Lạc, HT Đỗ Văn Hỷ chưa muốn chấn hưng Phật giáo và những nguyên nhân về phía nhà cầm quyền Pháp... sau khi sư ông Lai về làm Đương gia chùa Phương Lăng thì phong trào CHPG xứ Bắc có phần trầm lắng rồi tắt hẳn vào năm 1929, mãi đến năm 1932 - 1933 mới được khởi động lại bởi lớp lớp tăng sĩ trẻ hơn, năng động hơn, thực tế hơn là các sư ông Trí Hải, Thái Hòa, Tâm Ứng và các cư sĩ Lê Toại, Nguyễn Hữu Kha, Trần Văn Giác. Sau 4 năm tiến hành vận động, ngày 6 tháng 11 năm 1934, khi Hội Phật giáo Bắc kỳ ra đời có trụ sở tại chùa Quán Sứ, Hà Nội...
Còn sư Thiện Chiếu cuối tháng 5 năm 1927 trở về Nam với một số tạp chí Hải Triều Âmcó đăng chương trình CHPG của Trung Quốc do Đại sư Thái Hư đề xuất, ông ghé qua trường hương Long Khánh (Quy Nhơn) gặp Hòa thượng Khánh Hòa và Hòa thượng Huệ Quang báo cáo về chuyến đi của mình... Công cuộc chấn hưng Phật giáo ở Namkỳ chỉ gián đoạn một thời gian ngắn lại được tiến hành với sự ra đời của Hội Nghiên cứu Phật học Nam kỳ ngày 26/8/1931, và tạp chí Từ Bi Âm...
Nguồn: Xưa & Nay, số 280, 3/2007, tr 38








