Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 18/11/2006 00:10 (GMT+7)

Những lợi ích đã được ghi nhận của cây chuyển gen

Tại Mỹ

Người nông dân Mỹ đã nhanh chóng trồng nhiều giống cây chuyển gen từ khi chúng được tạo ra. Cho đến năm 2000, xấp xỉ 20% diện tích ngô ở Mỹ, hơn 50 % diện tích đậu tương và gần 75% diện tích bông trồng cây chuyển gen kháng côn trùng hoặc thuốc diệt cỏ, hoặc cả hai.

Cây trồng

Lợi nhuận

Đậu tương chống chịu thuốc diệt cỏ

*      Tiết kiệm 216 triệu đô la mỗi năm trong tổng số chi phí kiểm soát cỏ dại

*     Giảm sử dụng 19 triệu liều thuốc diệt cỏ (1999)

Bông chống chịu thuốc diệt cỏ

*     Giảm sử dụng 19 triệu liều thuốc diệt cỏ (2000)

Bông kháng sâu

*      Sử dụng thuốc trừ sâu ít hơn 2,7 triệu Ib

*      Giảm sử dụng 15 triệu liều thuốc trừ sâu mỗi năm

*      Tổng thu nhập tăng 99 triệu đô la

Ngô kháng sâu

*        66 triệu ruộng tránh được sâu đục ngô

Tại Canada

Nông dân Canada đã nhanh chóng sử dụng các giống cải dầu chuyển gen từ khi chúng được tạo ra vào năm 1995. Trong năm 2000, xấp xỉ 55% tổng diện tích cải dầu trồng cây chuyển gen. Để đánh giá ảnh hưởng của việc này đối với người nông dân và nền công nghiệp, một công trình nghiên cứu ở Canada đã được tiến hành để xác định những ảnh hưởng tới kinh tế và nông nghiệp.

Những kết quả của nghiên cứu như sau:

  • Kiểm soát cỏ dại hiệu quả hơn
  • Quản lý thuốc diệt cỏ dễ dàng hơn nhằm giảm tính kháng của cỏ
  • Giảm cày cấy, do đó góp phần bảo tồn đất
  • Sản lượng tăng 10 % (7,5 bu/ha)
  • Giảm năng lượng cần sử dụng do có ít hoạt động trên đồng ruộng hơn (tiết kiệm năng lượng 31,2 triệu lít năm 2000, tiết kiệm 8,7 triệu đô)
  • Chi phí thuốc diệt cỏ giảm 40%
  • Lượng thuốc diệt cỏ sử dụng giảm 6000 tấn
  • Thu nhập người nông dân tăng 9,75 đô/ha

Từ khi được đưa ra thị trường vào giữa thập kỷ 90, việc sử dụng cây trồng chuyển gen ở Bắc Mỹ đã tăng lên đáng kể. Trong năm 1996, Mỹ và Canada trồng tương ứng 1,5 triệu ha và 0,5 triệu ha cây chuyển gen, trong khi đó năm 2000, những con số này tăng tới 30,3 triệu ha. Vậy sử dụng công nghệ này có đem lại lợi nhuận cho người nông dân và môi trường không?

Cho tới nay, số lượng những công trình nghiên cứu đã công bố về ảnh hưởng của công nghệ sinh học ở nông trại tại các nước ngoài Bắc Mỹ còn rất ít. Lợi nhuận đó có đến được với người nông dân nghèo ở các nước đang phát triển ở châu Á và châu Mỹ la tinh hay không? Rất nhiều người đã nghi ngờ nhưng những công trình nghiên cứu sau đây lại chỉ ra ngược lại.

Ảnh hưởng của bông Bt ở Nam Phi 

Ở Nam Phi diện tích trồng bông khoảng trên 80.000 ha và bị thiệt hại đáng kể hàng năm do sâu quả gây ra. Ở vùng đồng bằng Makathini, người nông dân nghèo trồng  từ 1,5 đến 3,0 ha bông;trong đó một số nông dân trồng tới 10 ha.

Từ năm 1997, ngày càng nhiều người nông dân lựa chọn việc trồng bông Bt do nhiều lợi ích như tăng năng suất và giảm sử dụng thuốc trừ sâu.

Số nông dân trồng bông Bt

Mùa

Số lượng nông dân

Ha trồng bông Bt

1998 - 1999

75

200

1999 - 2000

410

798

2000 - 2001

644

1250

 Những nguyên nhân làm tăng số lượng người nông dân trồng bông Bt

  • Giảm số lần sử dụng thuốc trừ sâu
  • Giảm chi phí sản xuất
  • Tăng cường sức khỏe do ít phải tiếp xúc với thuốc trừ sâu hơn.
  • Tiết kiệm thời gian do không phải mua thuốc trừ sâu mà cửa hàng gần nhất cũng cách khu vực đồng bằng Makhatini  20 km

Số lần dùng thuốc trừ sâu và sản lượng của 4 người nông dân nghèo ở Makhatini trồng bông Bt và bông truyền thống.

Nông dân

Số lần sử dụng thuốc trừ sâu hóa học (Số lần phun)

Sản lượng

Kg/ha

Bt

Không Bt

Tiết kiệm số lần phun

Bông Bt

Không Bt

Tăng sản lượng

1

0

7

7

2,349

2,005

344

2

0

6

6

1,508

1,206

302

3

1

7

6

1,475

1,149

336

4

1

5

4

2,090

1,509

581

 Lợi nhuận tương đối của người nông dân qui mô

Nông trại nhỏ và trồng bông Bt 3

Loại nông dân

% tăng  sản lượng

Tiết kiệm số lần phun thuốc trừ sâu

Lượng thuốc trừ sâu giảm (gai*/ha)

Tổng lợi nhuận (đôla/ha)

Quy mô lớn

Quy mô nhỏ

23

26

4

6

160

240

112

165

*g ai/ha ? số gam của các thành phần hoạt động mỗi hecta

Ảnh hưởng của bông Bt* ở Trung Quốc

Cho đến nay, những thành quả hứa hẹn nhất cho các nước đang phát triển là việc trồng bông Bt của ít nhất 3 triệu nông dân nghèo ở Trung Quốc. Họ trồng tổng số ít nhất 0,5 triệu ha năm 2000,thu được nhiều lợi nhuận.

Trang trại nhỏ hơn và thu nhập thấp hơn đạt được gần gấp đôi thu nhập trên mỗi đơn vị đất từ việc trồng bông Bt. Những người nông dân trồng quy mô lớn hơn có thu nhập cao hơn.

Phân bố lợi nhuận của bông Bt được phân loại theo qui mô nông trại và thu nhập.

Lợi nhuận của bông Bt chủ yếu đến tay người nông dân

Có ít nhất 82,5 % lợi nhuận năm 1999 do trồng bông Bt của Viện hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS), ít nhất 87% lợi nhuận của bông Bt Monsanto (Mon) và Bông Delta Pineland(DPL) đến tay người nông dân

Những người nông dân trồng những giống bông Bt nổi tiếng nhất giảm được chi phí sản xuất 20-23% so với những giống mới không phải Bt.

Công ty CAAS

Hạt của người nông dân

Công ty Mon / PDL

Hạt của người nông dân

Diện tích bông Bt năm 1999 (ha)

120,000

60,000

100,000

60,000

Sản lượng (kg/ha)

3,500

3,500

3,440

3,440

Tổng lợi nhuận đến người nông dân (triệu đô)

45.5

24.1

33.1

36.5

Tổng thu nhập của công ty hạt (triệu đô)

9.6

0

5.0

0

Hoàn lại cho CAAS hoặc  Mon/PDL (triệu đô)

0

0

1.9

0

Cột “Hạt của người nông dân” là ước tính xấp xỉ ở những vùng có hạt do nông dân bán truyền tay, không qua các công ty của Mon/DPL hay CAAS

Giảm sử dụng thuốc trừ sâu và các chất độc hại liên quan

Sử dụng bông Bt đã giảm được lượng thuốc trừ sâu sử dụng khoảng 15.000 tấn hay 47 kg/ha. Người nông dân và người lao động ít bị tiếp xúc với thuốc trừ sâu hơn, và tình trạng ngộ độc thuốc trừ sâu cũng giảm. 

Giống

Ngộ độc thuốc trừ sâu đã ghi chép

(% nông dân)

Chỉ dùng Bt

4,7

Dùng cả Bt và không Bt

10,8

Không dùng Bt

22,2

 Tăng cường đa dạng sinh học

Sử dụng bông Bt có thể làm tăng sự đa dạng sinh học của côn trùng. Các nhà chức trách địa phương ở tỉnh Hebei năm 1997 tìm thấy 31 loài côn trùng ở cánh đồng Bt, trong đó có 23 loài có ích, trong khi đó những cánh đồng bông không phải là Bt có 14 loài và trong đó 5 loài có ích.

Các nước đang phát triển còn lại

Việc trồng bông Bt ở Achentina cũng có những ảnh hưởng tương tự đối với những người nông dân địa phương. Trong mùa 1999/2000, lợi nhuận tăng 65,05 đô la trên một ha. Điều này có được là do tăng sản lượng, cải thiện chất lượng và tiết kiệm được chi phí sử dụng thuốc trừ sâu (27,55 đô /ha)

Các nghiên cứu thực địa ở mọi nơi ở châu Á đều khẳng định những lợi ích đó.

Chẳng hạn, ở inđônexia, bông Bt ưu việt hơn các giống bông địa phương ở tất cả 15 địa điểm được kiểm tra và hiện nay đang được trồng rộng rãi ở Nam Sulawesi.

Các nghiên cứu thực địa ở Ấn Độ về bông Bt cũng cho những kết quả tương tự.

ở Philippin, một nghiên cứu đã chứng minh ngô Bt cho sản lượng cao hơn.

Kết luận 

Cây trồng chuyển gen sẽ đem lại lợi ích cho người nông dân ở các nước đang phát triển hay không? Từ những kinh nghiệm về bông Bt ở Trung quốc, Nam Phi, và Achentina, dường như câu trả lời là có. Tuy nhiên, không phải tất cả Công nghệ sinh học thực vật sẽ có cùng những đặc điểm như bông Bt. Chính người nông dân và chính phủ quyết định sản phẩm nào họ muốn sử dụng.

Nguồn: agbiotech.com.vn, 14/06/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.