Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 27/12/2006 23:12 (GMT+7)

Những kết quả đầu tiên về sao hoả từ tàu vũ trụ SPIRIT

I. Vài nét về sao hoả

1. Qũi đạo và cách phóng tàu đổ bộ xuống Sao Hoả

Sao Hoả là hành tinh thứ tư (tính từ Mặt trời đi ra) của Hệ Mặt trời cách Mặt trời khoảng 1,52 lần khoảng cách từ Mặt trời đến Trái đất chúng ta. Sao Hoả chuyển động quanh Mặt trời theo đường elip với chu kỳ gần bằng 687 ngày trên Trái đất. Quĩ đạo đó nằm trong mặt phẳng nghiêng với mặt phẳng quĩ đạo Trái đất(mặt phẳng Hoàng đạo)một góc gần 1°. Khi gần Mặt trời nhất, nó cách Mặt trời khoảng 205.5 x 10 6km, còn khi xa nhất cách khoảng 227.7 x 10 6km. Do Trái đất cũng chuyển động quanh Mặt trời cùng một chiều, nhưng với chu kỳ 365.25 ngày, nên cứ khoảng sau 15 đến 17 năm, Trái đất và Sao Hoả mới ở gần nhau, những khi đó chúng cách nhau khoảng từ 55 triệu km. Tháng 8 năm 2003 vừa qua là thời kỳ chúng gần nhau nhất.

Hình 1
Hình 1
Từ Trái đất muốn đến Sao Hoả phải đi bằng tàu vũ trụ có động cơ tên lửa theo các quĩ đạo gọi là quĩ đạo chuyển (transfer orbits). Quĩ đạo này là một elip với Mặt trời là một tiêu điểm, cậnđiểm là nơi rời khỏi mặt đất, viễn điểm là vị trí gặp Sao Hoả. Từ định luật Kepler thứ ba, ta tìm thấy thời gian để con tàu từ Trái đất đến Sao Hoả là gần 9 tháng (258 ngày Trái đất). Để tiết kiệmnăng lượng nhiều nhất, phương án tối ưu là rời khỏi Trái đất khi Trái đất ở gần Mặt trời nhất (vào khoảng đầu tháng riêng hàng năm) và đổ bộ xuống Sao Hoả khi Sao Hoả cũng gần Mặt trời nhất. Hai vịtrí này lại phải tương ứng là cận điểm và viễn điểm của quĩ đạo tàu đổ bộ (hình1). Trong tương lai, để thực hiện một chuyến bay khứ hồi, lúc trở về ta đi theo nửa quĩ đạo còn lại qua hai giai đoạn:dùng động cơ tên lửa thay đổi tốc độ con tàu để chuyển quĩ đạo Sao Hoả sang quĩ đạo con tàu rồi từ quĩ đạo con tàu sang quĩ đạo Trái đất. Như vậy ta hiểu vì sao các tàu thám hiểm Sao Hoả thường đượcphóng vào những tháng cuối mùa đông đầu mùa xuân của mỗi năm trên Trái đất và đổ bộ xuống Sao Hoả ở gần vùng chứa cận điểm của nó.

2. Quá trình con người tìm hiểu Sao Hoả

Chiristiaan Huyghens ở Hà Lan là người đầu tiên vào năm 1659 đã nhìn thấy khá chi tiết bề mặt Sao Hoả. Giovanni Casini, nhà thiên văn Ý quốc tịch Pháp, vào giữa thế kỷ 17 đã phát hiện được sự tự quay và sự nghiêng trục tự quay của Sao Hoả. Cuối thế kỷ 18, William Herschel người Anh và Jonhann Schroeter người Đức, với những kính thiên văn khá tốt, đã phác vẽ địa hình Sao Hoả, phát hiện Sao Hoả có vành mũ ở hai cực và nhận thấy có sự thay đổi màu sắc của vành mũ theo mùa trong năm của Sao Hoả. Tháng 8-1877, Asaph Hall và George Anderson đã phát hiện Sao Hoả có hai vệ tinh – Phobos và Deimos. Tiếp đó, Giovanni Schiaparelli người Ý và Percival Lowell người Mỹ đã phát hiện ra hệ thống “kênh đào” trên Sao Hoả nhờ kính thiên văn có đường kính vật kính 22cm. Năm 1896, các nhà thiên văn Pháp đã vẽ bản đồ địa hình Sao Hoả. Năm 1965, tàu vũ trụ Mariner-4 đã chụp được ảnh bề mặt Sao Hoả, rút ngắn giai đoạn tranh cãi về hệ thống “kênh đào” trên Sao Hoả, mở đầu thời kỳ con người nghiên cứu về Sao Hoả ở cự ly gần với khá nhiều tàu vũ trụ dần dần được phóng về phía Sao Hoả.

Qua các dữ liệu thu được từ các tàu vũ trụ, một cách khái quát, có thể thấy rằng Sao Hoả là một miền đất hoang vu, khô cằn, ở vùng gần cực có các mũ băng. Núi ở Sao Hoả cao hơn núi ở Trái đất. Nổi bật nhất là ngọn Olympus Mons là núi dốc, rộng nhất trong Hệ Mặt trời. Nó có diện tích cỡ diện tích nước Pháp và cao gấp ba lần đỉnh Everest. Hệ thống thung lũng giữa các núi dốc trên Sao Hoả rộng cỡ nước Mỹ. Khí quyển Sao Hoả loãng hơn khí quyển Trái đất rất nhiều, nhưng tỷ lệ CO 2lại cao gấp 100 lần CO 2trong không khí Trái đất. Nước trên Sao Hỏa hiện nay chỉ tồn tại ở dạng đóng băng tại hai vùng cực, số còn lại hòa lẫn trong các hợp chất của đất hoặc đóng băng tại lớp gần bề mặt. Bông tuyết trên Sao Hỏa có lẫn băng khô của CO 2. Bão tuyết và bão bụi đất đá trên Sao Hỏa ra rất giữ dội và cuốn theo những hạt nước đóng băng từ hai miền cực về vùng gần xích đạo. Do trục tự quay nghiêng với mặt phẳng quĩ đạo một góc cỡ như trục tự quay của Trái đất, chu kỳ tự quay cỡ 24,62h, nên trên Sao Hoả cũng có hiện tượng 4 mùa và ngày đêm như ở Trái đất. Nhưng do khí quyển loãng, lại ở xa Mặt trời hơn Trái đất, nên ở Sao Hoả lạnh hơn, nhiệt độ trung bình dao động từ -120°C đến +27°C.

Phân tích các bức ảnh đã chụp được còn cho thấy Sao Hoả có vẻ ẩm ướt hơn nhiều so với những gì người ta đã thấy và đã nghĩ về Sao Hoả. Nếu như trước đây người ta nghĩ rằng hệ thống kênh đào chằng chịt, có nơi tối, nơi sáng, màu sắc biến đổi theo mùa trên Sao Hoả là dấu hiệu của mùa màng, cây cối, thì ngày nay các dữ liệu từ tàu vũ trụ gửi về khẳng định rằng đó là các trận bão bụi (windblown dust). Nhưng tại sao có dãy tối, dãy sáng? Theo Wendy Calvin, các dãy màu tối thường qui tụ tại những nơi xưa kia chứa nhiều nước chứ không phải liên quan tới sunfit sắt lắng đọng lại trên đất đá. Michael Cars phản bác lại và cho rằng các “kênh đào” trên Sao Hoả hình thành chủ yếu là vì nước từ trong lòng Sao Hoả đã thẩm thấu và bốc hơi lên bề mặt nhờ một nguồn “địa nhiệt”. Do vậy đề tài nóng hổi hiện nay nhằm tìm hiểu bản chất các “vệt màu đỏ” trên hành tinh này là ở đó có nước hay không? Sâu trong lòng các lớp dưới bề mặt Sao Hoả, liệu có chứa một lượng nước đóng băng đáng kể hay không? Nguồn địa nhiệt còn tồn tại trong lòng nó nữa hay không? Nếu có thì ở mức độ nào. Từ đó đi đến vấn đề phải chăng xưa kia trên Sao Hoả đã từng có sự sống? Kinh nghiệm từ nghiên cứu nguồn gốc sự sống trên Trái đất cho thấy sự sống gắn liền với nước lộ thiên, với nguồn địa nhiệt, nó thoạt đầu phải được hình thành từ các ao nước ấm áp do nhiệt đi từ lòng đất ra. Điều đó buộc các nhà thiên văn cố đi tìm nguồn nước ngầm chứa trong lòng đất Sao Hoả, nguồn địa nhiệt và đánh giá lại mức độ hoạt động hiện nay trong lòng nó.

Trong những năm 70, 80 của thế kỷ trước, nước Mỹ đã chi hàng tỷ đôla cho các chương trình Mariner và Vinking để nghiên cứu Sao Hoả. Từ những năm 90 tới nay, Mỹ và các nước thuộc cộng đồng châu Âu, Nhật, Ý đã tìm thấy con đường “rẻ hơn, tốt hơn, nhanh hơn” để chinh phục và khám phá hành tinh đỏ, mở đầu là Mars Pathfinder, Mars Global Surveyor, rồi tiếp đến là Mars Weather Satellite, Mars Polar Lander, Mars Climate Orbiter, và hiện nay là các tàu đổ bộ Spirit và Opportunity với hai rôbôt Mars Exploration Rovers (MER), chi phí chỉ là 184 triệu đôla nhưng trang bị đầy đủ các rôbôt để di chuyển, đào xúc đất đá và tiến hành phân tích các thành phần đất đá. Trên các máy đổ bộ có gắn các máy ảnh để chụp bề mặt Sao Hoả với độ phân giải đơn sắc cao hoặc trường độ phân giả thấp như đa màu, các máy đo độ chịu nén để nghiên cứu địa hình, các máy đo phổ hồng ngoại để xác định sự phụ thuộc lượng bụi và nhiệt độ trong không khí theo độ cao nhằm mô hình hoá khí quyển Sao Hoả để từ đó ngoại suy cho thời quá khứ xa xưa của hành tinh. Mục tiêu của MER là nhằm tìm kiếm dấu vết của sự sống trên Sao Hoả, tìm kiếm nước, tìm hiểu địa chất đất đá trên đó để trả lời đúng đắn các câu hỏi sau:

- Xa xưa nước đã tồn tại và chảy trên bề mặt Sao Hoả như thế nào?

- Nước chảy bắt nguồn từ đâu? Hiện còn lưu giữ ở đâu? Dưới dạng nào?

- Vì sao khí hậu trên Sao Hoả đã bị thay đổi từ ẩm ướt đến khô cằn. Phải chăng xa xưa Sao Hoả không giống nó bây giờ mà giống Trái đất ta hiện nay?

- Những gì đã xẩy ra trên Sao Hoả liệu có xảy ra cho Trái đất hay không?

II. Tàu Spirit: Một kết quả đầu tiên    

Thoạt đầu NASA đề nghị MER được xem như phần tiếp theo của chương trình Mars Pathfinder nhưng đề nghị này không được chấp thuận. Sau nhiều sửa đổi, hoàn thiện, người ta dự kiến Spirit sẽ được phóng vào năm 2001 còn Opportunityvào năm 2003. Nhưng do ngân sách dành cho nghiên cứu vũ trụ của Mỹ vào năm 2001 bị cắt giảm, hơn nữa do các con tàu Mars Polar Lander và Mars Climate Orbiter sau gần 90 ngày hoạt động đã bị mất liên lạc vì bão bụi che phủ pin Mặt trời, dự kiến trên đã bị hoãn cho đến tháng 8 - 2003 và sẽ phóng luôn cả hai con tàu, lúc đó Sao Hoả ở thời kỳ xung đối lớn và gần Trái đất chúng ta nhất. Phần lớn công việc lắp đặt và thử nghiệm được tiến hành trong năm 2002 và đầu năm 2003. Theo dự kiến, ngày 4 -1 – 2004, tàu Spirit sẽ đổ bộ xuống Sao Hoả ở miệng núi lửa Gusev, một địa điểm ở gần cực Bắc, theo những thông tin do các máy đổ bộ trước đây đã cung cấp. Thực tế vào lúc 8h30 phút chiều theo giờ chuẩn Thái Bình Dương (Pacific Standard time), tức là cỡ 1h30 phút chiều giờ GMT ngày 3 -1- 2004, ở Trái đất đã nhận được tín hiệu do Spirit đổ bộ xuống Sao Hoả gửi về.

Theo đánh giá của Jim Bell, chương trình MER đang mở ra một hướng mới để khám phá hành tinh đó và nói chung các hành tinh trong Hệ Mặt trời. Mục tiêu chính của Spirit và Opportunitylà tìm kiếm những chứng cớ về địa chất, khí hậu, nước, khí quyển, địa nhiệt, từ trường,v.v... để hoặc là bảo vệ hoặc phản bác ý kiến cho rằng Sao Hoả đã có thời ký giống như Trái đất ta hiện nay. Theo Bruce Moomaw, Spirit là người máy có nhiều mắt, có máy ảnh, có máy khoan và búa máy, có thiết bị nhìn xa trông rộng để làm nhiệm vụ của nhà địa chất hiện đại.

Hình 2. Spirit gặp hòn đá Adirondack và đã có sự bất trắc xuất hiện. “Kỹ sư máy” đã được lệnh xử lý tình huống này.
Hình 2. Spirit gặp hòn đá Adirondack và đã có sự bất trắc xuất hiện. “Kỹ sư máy” đã được lệnh xử lý tình huống này.
Theo các thông báo đầu tiên thì Spirit đã đổ bộ nhẹ nhàng xuống miệng núi lửa Gusev. Nó đã chụp ảnh và thu thập dữ liệu về đất đá trước khi phần mềm tàm ngừng công việc nghiên cứu của nó. Cácdữ liệu thu được là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy nước đã tồn tại trên Sao Hoả vào thời ký Noachian cách đây 3,5 đến 4,5 tỉ năm. Miệng núi lửa Gusev sinh ra từ một vụ va chạm có chiều rộng hơn 100 km ởđộ tuổi 4 tỉ năm. Các thiết bị trên tàu Spirit được dùng để khám phá quá khứ của miệng núi lửa: máy ảnh kỹ thuật số đã chụp ảnh nổi của đất đá, bề mặt nơi đổ bộ và nơi nó đi tới. Máy phổ đo độ phátxạ nhiệt để tìm kiếm nguồn địa nhiệt, tìm khoáng sản liên kết với nước ở dạng cacbonat hay sunfit. Cánh tay cơ khí của Spirit có gắn máy chụp ảnh vi phim với độ phân giải cao để chụp ảnh các đất đá,sỏi. Máy phổ tia α dùng để phân tích các thành phần hoá học của đất đá. Máy phổ dựa trên hiệu ứng Mössbauer dùng để tìm quặng chứa sắt. Có các dụng cụ để mài mòn đá nhằm tìm kiếm các vết nứt trên đá.Nhờ các dụng cụ đó, Spirit cho thấy đá ở miệng núi lửa Gusev nhiều và mịn hơn so với nơi tàu đổ bộ trước đây đã thấy. Chỗ Spirit đổ bộ tỏ ra mềm, ẩm ướt hơn. Đất đá nơi đổ bộ không chứa quá nhiều vậtcản trở Rover đi lại. Bề mặt miệng núi lửa Gusev chứa lượng cacbonat cao hơn ở chỗ khác khoảng 3 đến 5%. Qua các số liệu mà máy phổ đã ghi được, các nhà nghiên cứu hiện đang tiến hành so sánh đá thôthu được tại Gusev với bụi đất đá nhỏ mịn hơn, nếu cacbonat tỏ ra quy tụ trong đất đá thô nhiều hơn hiện nay thì điều đó chứng tỏ xa xưa trên Gusev và do đó trên Sao Hoả có nhiều nước hơn hiện nay.

Trên đường đi khi tới gần tảng đá Adirondack, Spirit đã gặp một tình huống bất trắc và đã ra lệnh cho “kỹ sư máy” xử lý tình huống đó (Hình 2). Spirit đã lang thang trong vùng cách nơi đổ bộ khoảng 24m về phía Bắc và 10m về phía Nam, vượt qua miệng núi lửa rộng cỡ 20m, sâu từ 2 đến 2,5m. Spirit hiện đang leo lên đồi ở phía Đông (so với nơi đổ bộ), theo dự định thời gian làm việc sẽ kéo dài 180 ngày và nó có thể đi lên tới đỉnh. Tuổi thọ của Spirit sẽ tuỳ thuộc lượng bụi bám vào các tấm pin Mặt trời gắn lên trên đó. Các kết quả tiếp tục thu được, chúng tôi sẽ thông báo trong một bài sau cùng với các kết quả từ con tàu Opportunity.

Tài liệu: Geoff chester , Astronomy, 31, N°8, 2003, 40; William K. Hartmann, ibid, 46; Jim Bell, ibid, 52; Bruce Moomaw, Astronomy, 32, N°4, 2004, 32.

Nguồn: Tạp chí Vật lý ngày nay, số 2, 4 - 2004

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Tuyên Quang: Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
Chiều ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các sở, ban ngành, UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hội tỉnh.
Quảng Trị: Tập huấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo
Ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội nghị “Tập huấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo” với mục tiêu nâng cao nhận thức về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, các hội thành viên trong thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại địa phương.
Hải Phòng: Tập huấn nâng cao năng lực cho tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong hai ngày 02 - 03/4, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố đã tổ chức khoá đào tạo “Nâng cao năng lực cho tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua thông qua chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hướng đến cải thiện nâng suất và việc làm thỏa đáng”.
Đồng chí Nguyễn Phi Long giữ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương
Chiều 8/4, tại Hà Nội, Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương tổ chức Hội nghị triển khai quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chủ trì Hội nghị.