Những điều cần biết về bệnh dịch tả
Phân biệt tiêu chảy thông thường và dịch tả
Tiêu chảy dùng để chỉ tất cả các trường hợp đi tiêu phân lỏng, nhiều lần trong ngày; tiêu chảy có nhiều nguyên nhân: nhiễm khuẩn, nhiều virus, nhiễm ký sinh trùng… hay rối loạn tiêu hóa.
Dịch tả là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính ở đường tiêu hóa, do vi khuẩn Vibrio choleragây ra, biểu hiện là tiêu chảy phân nước nhiều lần với số lượng nhiều, làm cho bệnh nhân mau chóng mất nước, trụy tim mạch, suy thận cấp và có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Vi khuẩn V. cholerabắt màu gram âm, hình cong, mảnh, di động nhanh nhờ có flagella. Được nhà bác học Robert Koch phân lập năm 1883, chữ Vibrio có nguồn gốc từ La tinh Vibrate nghĩa là rung động, vì một đầu của vi khuẩn có tiêm mạo rung chuyển. vi khuẩn thích hợp với môi trường kiềm (pH 9 – 10), phát triển ở môi trường có nồng độ natri cao, không chịu được kho ráo và pH axit.
Tác nhân gây tiêu chảy trong bệnh dịch tả
Tiêu chảy trong bệnh dịch tả không phải do bản thân vi khuẩn V. cholera,mà là do độc tố cholera toxin gây nên. Độc tố vi khuẩn tác động vào màng tế bào niêm mạc ruột non, gây giảm hấp thu natri và chlor, tăng bài tiết chlor và bicarbonat, tăng tiết nước vào lòng ruột. Lượng nước và chất điện giải tiết ra trong lòng ruột vượt quá khả năng hấp thu của niêm mạc tiêu hóa, dẫn đến tiêu chảy.
![]() |
Vi khuẩn V. cholera |
Đường lây truyền bệnh dịch tả
Vi khuẩn V. cholerakhông tồn tại trong súc vật, người mang vi khuẩn là nguồn lan truyền bệnh trong các đợt dịch. Bệnh lây qua thức ăn và nước uống bị nhiễm vi khuẩn. Những vùng có bệnh lưu hành phần lớn là nơi đông dân, vệ sinh kém, không đủ nước sạch cho sinh hoạt, thức ăn bị nhiễm. Lây qua đường nước có thể là do chính nước uống bị nhiễm hoặc là do nước sinh hoạt lấy từ sông, rạch, ao, hồ… bị nhiễm, khi tắm rửa, chế biến thức ăn vô tình nuốt phải vi khuẩn. Thức ăn giữ vai trò rất quan trọng trong vấn đề truyền bệnh, các loại rau tưới bằng nước bị nhiễm, nếu ăn sống cũng là nguồn lây. Người lành mang trùng khi chế biến thức ăn sẽ gây nhiễm các thức ăn và từ đó lây lan trong gia đình hay cộng đồng xã hội. Ngoài ra, thức ăn có nguồn gốc từ nước mặn có chứa vi khuẩn như cua, sò, ốc, tôm… là nguồn lây chủ yếu ở các nước đang phát triển và người đi du lịch.
Giữa hai đợt dịch, vi khuẩn tả tồn tại ra sao?
Trong môi trường nước ngoài thiên nhiên, vi khuẩn V. cholera01 và 0139 vẫn có thể tồn tại. Chu trình sống của V. choleraqua hai giai đoạn như sau:
- Trong môi trường nước ngoài thiên nhiên, diều kiện dinh dưỡng không thuận lợi, vi khuẩn tạo nên màng biofilm và bám trên bề mặt các thực vật hay động vật sống trong nước.
- Khi vào cơ thể, do sự biến đổi của môi trường, vi khuẩn mất màng biofilm, các yếu tố gây độc lực được hoạt hóa, tiết độc tố và gây bệnh.
Khi được thải ra ngoài theo phân, điều kiện môi trường không thuận lợi, vi khuẩn lại tạo thành màng biofilm, tiếp tục giai đoạn ngoài thiên nhiên của vi khuẩn là nguồn duy trì bệnh giữa các vụ dịch.
![]() |
Rau sống nếu tưới bằng nước bị nhiễm cũng là nguồn lây |
Có phải tất cả các nhóm V. cholerađều gây bệnh?
Dựa vào cấu tạo kháng nguyên O của V. cholera, người ta phân lập được hơn 200 nhóm huyết thanh. Trước đây, chỉ thấy vi khuẩn nhóm huyết thanh 01 gây bệnh, nên phân biệt thành 2 nhóm là nhóm 01 và nhóm khác 01. Từ năm 1992, xuất hiện thêm nhóm 0139 gây bệnh.
V. cholerachia làm hai sinh týp là cổ điển và Eltor. Trước năm 1905, sinh týp cổ điển là tác nhân gây bệnh duy nhất. Hiện nay, týp Eltor có khả năng tồn tại trong thức ăn và nước uống lâu hơn và gây dịch lan xa hơn týp cổ điển.
Điều kiện để V.choleragây bệnh
Khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn tả phải vượt qua hai hàng rào bảo vệ của cơ thể mới có thể gây bệnh.
Hàng rào thứ nhất là môi trường axit dạ dày, phần lớn V. cholerabị tiêu diệt ở đây. Vì thế, vi khuẩn xâm nhập với số lượng lớn, từ 100.000.000 đến 10.000.000.000 mới đủ khả năng gây bệnh. Khi axit dạ dày được trung hòa, liều nhiễm khuẩn có thể giảm 1.000.000 lần, bệnh nhân bị cắt dạ dày hoặc đang điều trị thuốc chống axit có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.
Hàng rào bảo vệ thứ hai là nhu động ruột, lớp màng nhày, một số men của ký chủ và muối mật.
Ở vùng dịch lưu hành, người lớn có kháng thể ngưng kết với vi khuẩn và kháng thể chống độc tố với chủng vi khuẩn đang lưu hành nên có miễn dịch chống tái nhiễm khuẩn. Trẻ em từ 2 đến 9 tuổi, do dạ dày ít axit nên dễ bị mắc bệnh, trẻ còn bú mẹ thì được bảo vệ do có miễn dịch từ sữa mẹ và không (hay ít) có nguy cơ nhiễm khuẩn qua thức ăn.
![]() |
Cần nấu chín kỹ các thủy hải sản: tôm, sò, mực… để tránh nhiễm khuẩn tả |
Phòng bệnh dịch tả
- Kiểm soát dịch khi có ca bệnh bằng các biện pháp: cung cấp đủ nước sạch cho sinh hoạt người dân, kiểm soát vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phân rác, cách ly người bệnh, điều trị dự phòng người tiếp xúc với bệnh nhân và theo dõi trong 5 ngày để bảo đảm không lan truyền bệnh cho cộng đồng, báo dịch đầy đủ theo quy định, xác định nguồn lây để có biện pháp ngăn chặn.
- Đối với người dân sống trong vùng dịch: bảo đản “ăn chín, uống sôi”, đối với các loại quả (trái cây) thì rửa sạch và gọt vỏ trước khi ăn, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch nhất là trước và sau khi chế biến thức ăn, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh











