Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 16/11/2012 21:20 (GMT+7)

Nhìn nhận lại môn lịch sử: Đâu chỉ có chống ngoại xâm

Chỉ thấy cây mà không thấy rừng

Trong cuộc hội thảo khoa học quốc gia về dạy - học lịch sử ở trường phổ thông mới đây, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học, chỉ ra rằng lịch sử chống ngoại xâm không phải là toàn bộ lịch sử dân tộc. Trái lại, sự phát triển kinh tế, những thành tựu về văn hóa, xã hội… lại chính là cơ sở tồn tại và phát triển của đất nước, là sức mạnh vật chất và tinh thần để dân tộc Việt Nam vượt qua những thử thách hiểm nghèo, làm nên những chiến công thần kỳ trong sự nghiệp chống ngoại xâm.

“Cái gì đã công bố thì phải đúng sự thật. Biết sự thật là như thế mà vẫn nói sai đi là không thể chấp nhận được đối với nhân cách nhà sử học”.

GS Phan Huy Lê- Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Các bộ sử phong kiến trước đây thực chất chỉ là lịch sử của vương triều và chỉ tập trung vào các sự kiện chính trị, quân sự lớn của triều đình. Trong thời gian gần đây, một số công trình nghiên cứu lịch sử đã cố gắng đi sâu vào lịch sử làng xã, nông nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, công nhân… nhưng dường như lại thiếu tầm khái quát, mới chỉ thấy cây mà không thấy rừng.

Đồng quan điểm, PGS Vũ Quang Hiển, Khoa Lịch sử Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, cho rằng trong điều kiện cả dân tộc phải tập trung vào cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập thì lịch sử chống ngoại xâm cần được đề cao. Trong bối cảnh một nước thuộc địa thì lịch sử chống chủ nghĩa thực dân cần được nhấn mạnh. “Vẫn biết rằng cuộc đấu tranh chống ngoại xâm chiếm phần lớn thời gian trong lịch sử dân tộc và dường như không khi nào người Việt Nam không phải chăm lo sự nghiệp giữ nước, nhưng đó không phải là tất cả. Coi trọng chính trị, quân sự, nhưng không thể xem nhẹ kinh tế, văn hóa, đối ngoại”, PGS Hiển nói.

Thiếu hụt lịch sử văn hóa

GS Nguyễn Quang Ngọc khẳng định sự thiếu hụt của lịch sử văn hóa trong sách sử hiện nay. Ông dẫn chứng nhiều công trình sử học của Việt Nam từ trước đến nay thường chỉ trình bày lịch sử dân tộc theo một dòng chảy chủ đạo là từ các nền văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Mậu - Gò Mun - Đông Sơn, dẫn đến sự ra đời của nước Văn Lang, Âu Lạc, trải qua 1.000 năm Bắc thuộc đến Đại Việt, Đại Nam và Việt Nam mà không đề cập đến các dòng lịch sử Chăm Pa và Phù Nam ở phía nam. Mặc dù vẫn biết cách chép sử như vậy phần nào chịu tác động của hoàn cảnh lịch sử, đặc biệt ở các thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ trước, nhưng rõ ràng không tránh khỏi chủ quan, phiến diện; không phản ánh đúng tiến trình lịch sử đất nước, dẫn đến những quan niệm sai lệch rằng lãnh thổ phía nam là vùng đất mới được khai phá mà bỏ quên những di sản lịch sử, văn hóa hết sức quan trọng làm nên lịch sử dân tộc.

Trước thực trạng này, GS Vũ Dương Ninh, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đề xuất: “Ở bậc THCS không nên ép nhiều kiến thức mang tính lý luận, khái quát hóa thành những quy luật… nội dung cơ bản của chương trình là lịch sử văn hóa Việt Nam. Ở chương trình dành cho học sinh lứa tuổi thiếu niên nên khai thác khía cạnh lịch sử từ góc độ lịch sử văn hóa, qua đó cung cấp kiến thức một cách hệ thống và in đậm nét nhận thức về quá trình phát triển và bảo vệ văn hóa dân tộc”.

Còn đồng nhất lịch sử với chính trị

GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, lo ngại: “Có nhiều vấn đề, nhất là về phần lịch sử hiện đại, chưa được làm sáng tỏ, thảo luận đầy đủ. Tôi nghĩ ở đây có mối quan hệ giữa sử học và chính trị. Sử học và chính trị học là 2 khoa học khác nhau dù có mối quan hệ mật thiết. Vì vậy quan niệm đồng nhất sử học với chính trị, dùng sử học chỉ để minh họa chính trị là thu hẹp chức năng của sử học, làm mất tính độc lập và vai trò sáng tạo của sử học”. GS Lê cũng cho rằng, nhà sử học làm 2 trách nhiệm: ghi chép lại lịch sử một cách khách quan và trung thực đồng thời có nghĩa vụ công dân đối với đất nước.

“Nhà sử học đích thực trước hết phải khách quan nhưng trong quá trình nghiên cứu lịch sử, nhất là lúc công bố kết quả thì phải chú ý cả trách nhiệm công dân. Nghĩa là, có những sự thật nào đó, trong một bối cảnh nào đó chưa thể công bố được. Nhưng cái gì đã công bố thì phải đúng sự thật. Biết sự thật là như thế mà vẫn nói sai đi là không thể chấp nhận được đối với nhân cách nhà sử học”, GS Lê khẳng định.

Hình ảnh quần chúng còn mờ nhạt

PGS Vũ Quang Hiển nhấn mạnh: “Quần chúng là người làm ra lịch sử. Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, có những bà mẹ một lần tiễn con đi không bao giờ gặp lại; những nông dân “một nắng hai sương” sẵn lòng dốc cả những hạt gạo cuối cùng cho chiến trường… Đó là những người làm ra lịch sử. Không thể phủ nhận sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhưng hình ảnh những người làm ra lịch sử còn mờ nhạt trong SGK”.

GS Nguyễn Quang Ngọc cũng cho rằng quần chúng là chủ nhân chân chính và vĩ đại nhất của lịch sử đất nước. Đồng thời với việc chú ý vào những sự kiện chính trị lớn, sự thay đổi của vương triều, chế độ xã hội, lịch sử Việt Nam phải được trình bày là lịch sử chung của cả nước, của toàn dân, trong đó không thể thiếu phần đóng góp của những người dân ở những đơn vị cơ sở của xã hội. Còn GS Nguyễn Thị Côi, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội nhận thấy  sách giáo khoa lịch sử Việt Nam còn quá thiếu vắng con người, nhân vật lịch sử tiêu biểu, tiến bộ và những đóng góp của họ.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.