Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 14/06/2006 00:57 (GMT+7)

Nhà khoa học nặng lòng với cây lúa

Chúng tôi gặp GS-TS Bùi Chí Bửu giữa giờ nghỉ giải lao cuộc họp của Đoàn đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ chuẩn bị nội dung tham gia đóng góp tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Thành phố Cần Thơ vinh dự có 2 tham luận tại Đại hội X của Đảng, trong đó có một tham luận của Giáo sư đề cập tới vấn đề an ninh lương thực quốc gia, với mục tiêu vươn tới 40 triệu tấn lương thực/năm trong nhiệm kỳ tới của Đảng. Được biết, Giáo sư là một trong số nhà khoa học được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Tại các cuộc hội nghị, hội thảo lớn trong nước và quốc tế có liên quan đến cây lúa và xuất khẩu gạo, hầu như không thể thiếu vắng ý kiến tham luận quan trọng của giáo sư. Ở tuổi 54, giáo sư luôn chạy đua với thời gian vì trước mắt còn rất nhiều dự định cho công việc, với những công trình nghiên cứu khoa học về cây lúa cần phải tiếp tục hoàn thiện.

Xuất thân trong gia đình lao động nghèo đông anh em, tuổi thơ ấu của giáo sư gắn bó với quê hương vùng lúa Tân Châu- An Giang. Năm 1971, chàng thanh niên Bùi Chí Bửu thi đậu vào Trường Đại học Nông- Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1977, ngay sau khi tốt nghiệp anh tình nguyện về công tác tại vựa lúa Miền Tây và trở thành một trong những người đầu tiên gây dựng nên Viện Lúa ĐBSCL ngày nay. Năm 1987, Bùi Chí Bửu bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu đặc điểm giống lúa nước sâu ở ĐBSCL phục vụ cho công tác chọn giống”. Kể từ đó, GS-TS Bùi Chí Bửu đã có hơn 130 công trình nghiên cứu, 2 giáo trình giảng dạy và 3 cuốn sách đều cùng đề tài cây lúa. Năm 1996- 1997, ông được nhận học bổng của chương trình ITEC (Ấn Độ), thực hiện luận án về phân loại lúa hoang tại Ấn Độ. Năm 2004, ông chính thức được phong hàm Giáo sư.

Nhờ sự dày công nghiên cứu của ông và tập thể, Viện Lúa ĐBSCL đã góp phần mang lại hiệu quả rất khả quan về thâm canh lúa trong khu vực. Thực hiện phương châm: muốn đẩy mạnh xuất khẩu gạo trước hết phải có giống tốt. Nên đến nay, trên đồng đất phía Nam từ Bình Thuận trở vào đã có đến 75% diện tích lúa được gieo trồng các loại giống nguyên chủng, hoặc giống xác nhận có nguồn gốc từ Viện Lúa ĐBSCL, có khoảng 40% diện tích canh tác lúa áp dụng phương pháp sản xuất “ 3 giảm, 3 tăng” và phương pháp IPM. Nhờ ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học, những năm qua năng suất lúa đã tăng vọt bình quân từ 2,81 tấn/ha/vụ lên đến 4,88 tấn/ha/vụ, giúp nông dân ĐBSCL xóa đói giảm nghèo vững chắc. Giáo sư là một trong những nhà khoa học đã đề xuất thực hiện chương trình “Một triệu héc-ta lúa xuất khẩu ở ĐBSCL”, cộng thêm chính sách trợ giá của Nhà nước nên hiện tại chương trình đã phủ kín được 38% tổng diện tích theo dự kiến. Thành tựu nổi bật nhất của nông nghiệp ĐBSCL là đã đóng góp 50% sản lượng cho an ninh lương thực quốc gia và chiếm tới 80% sản lượng gạo phục vụ xuất khẩu. Riêng năm 2005, sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt 5,3 triệu tấn, cao nhất từ trước đến nay, góp phần đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản cả nước đạt 5,8 tỉ USD. Không thỏa mãn với kết quả đạt được, Giáo sư và những nhà khoa học ở Viện Lúa ĐBSCL vẫn luôn trăn trở, làm thế nào để phát huy được lợi thế, nâng cao giá trị sinh lợi của hạt lúa đồng bằng Nam bộ để hạt gạo Việt Nam vươn xa hơn trên thị trường quốc tế.

Nông dân tham gia đánh giá giống lúa vụ đông xuân 2005 tại ruộng thí nghiệm của Viện Lúa ĐBSCL.
Nông dân tham gia đánh giá giống lúa vụ đông xuân 2005 tại ruộng thí nghiệm của Viện Lúa ĐBSCL.
Theo GS-TS Bùi Chí Bửu: Nông nghiệp nước ta đã hoàn thành nhiệm vụ làm nền tảng cho công nghiệp và dịch vụ. Song công nghiệp hiện vẫn chưa trở thành đầu tàu kéo nông nghiệp đi lên theo đúngquy luật chung. Vì chưa cung ứng đủ nhu cầu máy móc thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y... để công nghiệp hóa nông nghiệp- nông thôn. Chẳng hạn như Tổng Công ty máy động lực và máynông nghiệp chỉ đáp ứng nhu cầu 25% thị trường trong nước, chưa kể hiện rất thiếu máy thu hoạch lúa và công nghệ sau thu hoạch cũng chưa phát triển. Nên thất thoát sau thu hoạch lúa chiếm 12-14%, sảnxuất phân đạm trong nước chỉ đáp ứng 30% nhu cầu, các dịch vụ hỗ trợ cho nông nghiệp chưa tương xứng với yêu cầu đổi mới. Có thể nói công nghiệp và dịch vụ Việt Nam chưa coi thị trường nông thôn làđịa bàn ưu tiên phục vụ. Trong khi nông nghiệp chiếm 68% tỷ trọng kinh tế nông thôn, đóng góp 79% cơ cấu kinh tế hộ nông dân, trong đó trồng trọt chiếm 50%. Nhưng 10 năm qua kết cấu này ít thay đổi,năng suất lao động nông nghiệp rất thấp. Quá trình chuyển lao động ra khỏi nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng diễn ra rất chậm. Mức đầu tư cho nông nghiệp hàng năm đạtchưa tới 10% ngân sách Nhà nước. ĐBSCL đã được xác định là một trong 7 vùng kinh tế quan trọng; nên cần có sự phân bổ đầu tư hợp lý, để phát huy tối đa lợi thế về sản xuất nông nghiệp của Việt Namtrong chặng đường sắp tới.

GS-TS Bùi Chí Bửu đề nghị: Nông nghiệp Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng cần chuyển hướng phát triển theo chiều sâu, trên cơ sở phát triển khoa học nông nghiệp, những tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là lĩnh vực ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin trong lựa chọn và tạo giống; bảo vệ cây trồng, vật nuôi; bảo vệ môi trường sinh thái. Mục tiêu hướng đến nông nghiệp chất lượng cao với nông sản nhằm thỏa mãn yêu cầu hội nhập, phục vụ nội tiêu, xuất khẩu, có sức cạnh tranh tốt, tiến đến xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề trong nông thôn, giảm hiện tượng di dân tạo sức ép quá lớn cho thành thị. ĐBSCL nên được tổ chức lại sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, cho phép tập trung ruộng đất theo hướng sản xuất công nghiệp, qui mô lớn đáp ứng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.

Nguồn: baocantho.com.vn

Xem Thêm

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.