Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 01/11/2012 20:04 (GMT+7)

“Nhà khoa học không phải người làm thuê”

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa XI) bàn bạc, cho ý kiến về nhiều vấn đề quan trọng, trong đó đã thông qua Nghị quyết “Phát triển khoa học và công nghệ (KH-CN) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”. Đây là Nghị quyết có ý nghĩa quan trọng, nhằm xác định hướng đi để tháo gỡ những bất cập, khó khăn, phát huy thế mạnh, tạo đà cho phát triển KH-CN trong điều kiện mới.

Hội nghị Trung ương 6 tiếp tục cụ thể hóa, xác định mục tiêu tổng quát: KH-CN phải thực sự trở thành động lực then chốt phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, tạo chuyển biến về chất trong đóng góp của KH-CN để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường; bảo đảm quốc phòng, an ninh (QP-AN), góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ XXI.

Đây là sự tiếp nối nhất quán quan điểm lãnh đạo của Đảng về KH-CN, như Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát triển mạnh KH-CN làm động lực đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, phát triển kinh tế tri thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp và tăng trưởng”.

Những năm qua, cuộc cách mạng KH-CN trong thời kỳ toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc; các phát minh khoa học gia tăng mạnh mẽ; khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn một cách đáng kể. Đồng thời với quá trình ấy, sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra một cách quyết liệt và cùng với nó, truyền thông về KH-CN diễn ra sôi động bằng nhiều phương tiện và hình thức.

Không thể không thừa nhận rằng, cuộc chạy đua phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) trên thế giới hiện nay thực chất là cuộc chạy đua về KH-CN. Chỉ có thể bằng KH-CN để nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hóa nguồn nhân lực mới hy vọng không thua trong cuộc chạy đua ấy. Từ yêu cầu đó, giáo dục-đào tạo (GD-ĐT) và KH-CN phải được "chuẩn hóa", "hiện đại hóa" và “hội nhập hóa quốc tế".

Nhận thức sâu sắc KH-CN là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố QP-AN, thêm một lần nữa, Hội nghị xác định hoạt động KH-CN là nhiệm vụ không chỉ của các nhà KH-CN, các nhà quản lý KH-CN, mà còn là công việc của mọi ngành, mọi cấp, mọi người; phát triển KH-CN phải gắn liền với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển KT-XH nhanh và bền vững. 

Hội nghị cũng chỉ ra cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ tổ chức cũng như cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH-CN, coi đây là khâu đột phá; xác định nhân lực KH-CN là nhân tố quyết định đối với phát triển KH-CN; ưu tiên nguồn lực quốc gia, tạo động lực để phát triển KH-CN; chủ động hợp tác và hội nhập quốc tế một cách sâu rộng, hiệu quả.

Triển khai Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX) của Đảng về KH-CN, chúng ta đã thu được những thành tựu quan trọng. Kết quả một số lĩnh vực KH-CN đã đáp ứng một phần thông tin phục vụ hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; việc định hướng sản phẩm, đổi mới công nghệ được chú trọng, nhất là trong các ngành công nghiệp, góp phần không nhỏ giúp sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục; trình độ cán bộ KH-CN được nâng lên một bước đáng kể, nhất là trong một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, góp phần nâng cao tiềm lực KH-CN chung của đất nước.

Việc nghiên cứu triển khai và ứng dụng KH-CN được nhiều cấp, ngành quan tâm phát triển; bước đầu hình thành thị trường công nghệ tạo điều kiện cho các dịch vụ KH-CN ngày càng phát triển.

Hợp tác quốc tế được mở rộng, góp phần đưa Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào quốc tế và khu vực. Những thành tựu đó cho phép khẳng định KH-CN thời gian qua đã có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển KT-XH và QP-AN.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những yếu kém không nhỏ: Hoạt động KH-CN trên thực tế vẫn chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển KT-XH, QP-AN; sự đóng góp của KH-CN vào công cuộc phát triển đất nước chưa được như mong muốn; việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ KH-CN còn nhiều bất cập, là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ KH-CN còn thấp; đầu tư xã hội cho KH-CN chưa tương xứng, hiệu quả chưa cao (ở các nước phát triển, xã hội nói chung và doanh nghiệp nói riêng đầu tư cho KH-CN nhiều hơn ngân sách Nhà nước từ 5 đến 10 lần).

Cơ chế quản lý hoạt động KH-CN (đặc biệt là cơ chế tài chính) chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; thị trường KH-CN phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ với kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH, HĐH...

Cũng cần nói thêm, có những lĩnh vực chúng ta sẵn sàng đầu tư không nhỏ cho việc mua sắm, nhập khẩu trang thiết bị, trong khi việc đầu tư để làm chủ những trang thiết bị đó lại rất hạn chế và có nhiều bất cập.

Trong lĩnh vực QP-AN, hoạt động KH-CN thời gian qua được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng (BQP) nên đã đạt được những kết quả nhất định.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chung của nền KH-CN đất nước, hoạt động KH-CN trong lĩnh vực QP-AN cũng còn tồn tại những mặt hạn chế như: Nhận thức về vai trò KH-CN của cán bộ các cấp còn hạn chế; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ KH-CN trong Quân đội chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; một số cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp QP-AN chưa xác định được chiến lược phát triển KH-CN, còn mang nặng tư tưởng bao cấp.

Hệ thống tổ chức và nhân lực KH-CN còn chậm đổi mới để theo kịp xu thế chung; việc tổ chức và thực hiện các chương trình, nhiệm vụ nghiên cứu chưa thực sự hiệu quả, chưa gắn kết được với các dự án đầu tư lớn của BQP; thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp...

Nghị định của Chính phủ về huy động tiềm lực KH-CN quốc gia phục vụ nhiệm vụ QP-AN chưa được triển khai thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế...

Bên cạnh đó, công tác quản lý và năng lực tham mưu của cơ quan quản lý các cấp về KH-CN còn nhiều hạn chế. Chúng ta mới chú trọng nhiều đến hoạt động nghiên cứu triển khai (các đề tài) mà chưa quan tâm thích đáng tới các nội dung khác của hoạt động KH-CN như: Xây dựng tiềm lực; xây dựng tổ chức; phát triển các nhóm nghiên cứu; ít quan tâm đến hoạt động chuyển giao công nghệ thông qua hợp tác quốc tế, trong khi đây là phương thức hiệu quả để rút ngắn lộ trình phát triển KH-CN; chưa có hoạt động hỗ trợ xây dựng thương hiệu, cơ chế tạo thị trường, đặt hàng cho sản phẩm nghiên cứu...

Việc đầu tư lớn cho thiết kế, chế tạo các sản phẩm mới rất cần quan tâm, song cũng cần hỗ trợ thích đáng cho các hoạt động KH-CN phục vụ công tác bảo đảm kỹ thuật (sản xuất vật tư kỹ thuật, làm chủ VKTBKT thế hệ mới…).

Để phát triển KH-CN phục vụ QP-AN hiệu quả, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nhất là tinh thần Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI), các ngành, các cấp cần quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển KH-CN phục vụ QP-AN; tiếp tục hoàn thiện hệ thống các cơ chế chính sách, phù hợp với đặc thù, nhằm đáp ứng yêu cầu của QP-AN; khẩn trương hoạch định kế hoạch phát triển KH-CN nhằm tăng cường QP-AN dài hạn.

Đặc biệt, cần quan tâm xác định những sản phẩm KH-CN trọng điểm cần ưu tiên đầu tư phát triển phục vụ QP-AN, gắn kết chặt chẽ với các chương trình, dự án trọng điểm.

Cần có chiến lược phát triển KH-CN phục vụ QP-AN phù hợp với chiến lược phát triển KH-CN của cả nước và có những đặc thù riêng, để từ đó có căn cứ đầu tư tương xứng, đưa trình độ công nghệ lĩnh vực quốc phòng đạt ngang tầm các nước trong khu vực và từng bước rút ngắn khoảng cách đối với các nước tiên tiến trên thế giới, nhằm bảo đảm chủ động sản xuất, chế tạo trang bị vũ khí công nghệ cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Do những đặc thù của các hoạt động và nghiên cứu KH-CN phục vụ QP-AN, nên cùng với với việc huy động tiềm lực các đơn vị trong quân đội, thì các cơ chế, chính sách cũng cần có sự đổi mới để thu hút các nhà KH-CN giỏi và các cơ quan, nhà khoa học ngoài quân đội cùng tham gia giải quyết các vấn đề đặt ra với QP-AN.

Đặc biệt cần nghiên cứu phương thức để huy động được tiềm lực từ các cơ sở sản xuất trong và ngoài quân đội tham gia sản xuất thiết bị quân sự khi có yêu cầu.

Cần đầu tư và sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí được ưu tiên đầu tư cho hoạt động nghiên cứu KH-CN phục vụ QP-AN, đồng thời tìm các giải pháp tăng nguồn kinh phí đầu tư cho phát triển KH-CN từ nguồn ngân sách thường xuyên, như ngân sách bảo đảm kỹ thuật hằng năm, đóng góp của các doanh nghiệp...

Các nguồn kinh phí trên cần được quản lý tập trung thống nhất, tránh việc nhà khoa học thuần túy chỉ đóng vai trò là "người làm thuê" cho các cơ quan, đơn vị có kinh phí.

Cần tiếp tục tăng cường hợp tác giữa Bộ KH và CN với Bộ Quốc phòng nhằm thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng, Nghị định của Chính phủ về công tác KH-CN, huy động tối đa tiềm lực KH-CN của cả quốc gia góp phần phát triển, bảo đảm cho QP-AN.

Cần có các giải pháp hiệu quả để tiếp tục nghiên cứu các đề tài về các vấn đề nghệ thuật tác chiến chiến lược, chiến dịch; tác chiến trong khu vực phòng thủ, tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; đầu tư thích đáng cho đào tạo nguồn nhân lực để chủ động nghiên cứu lựa chọn và làm chủ, khai thác hiệu quả công nghệ nhập, tích cực nghiên cứu sáng tạo công nghệ mới đáp ứng yêu cầu cải tiến sản xuất vũ khí trang bị, các mô hình, dụng cụ phục vụ huấn luyện chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu; tăng cường nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mũi nhọn như công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…trong các hoạt động quân sự, quốc phòng, an ninh.

Đẩy mạnh hoạt động KH-CN để củng cố QP-AN có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay. Kết hợp phát triển KH-CN gắn với QP-AN, góp phần nâng cao tiềm lực kỹ thuật quân sự là một vấn đề lớn, thực hiện hiệu quả sẽ góp phần thực hiện thành công Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới mà Đảng ta đã xác định; thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.


Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.