Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 28/12/2011 20:49 (GMT+7)

Nguồn Lợi Và Thu Hoạch Rong Mơ - Sargassum Ở Ninh Thuận

Rong mơ ở Việt Nam :

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, bờ biển dài 3.260 km với hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ. Ven biển, khí hậu ôn hòa có gần một ngàn loài rong biển phân bố, đã tìm thấy 700 loài rong biển có kích thước lớn, trong đó họ rong mơ - Sargassaceaecó sản lượng tự nhiên cao nhất và thành phần loài phong phú nhất. Họ rong mơ thuộc bộ rong đuôi ngựa - Fucales, ngành rong nâu - Phaeophyceae. Chi rong mơ Sargassumlà một giống tảo lớn (macroagae), phân bố rộng từ Bắc xuống Nam và các hải đảo, trữ lượng tập trung cao tại vùng ven biển đặc biệt tại các tỉnh từ Quảng Nam đến Ninh Thuận. Rong mơ mọc trên tất cả các bờ biển đá, đá vôi, san hô chết, bám vào đá cuội trong khoảng từ mức triều thấp tới vài mét sâu. Rong có kích thước cá thể rất lớn, có thể dài tới 6 - 8m, sinh lượng từ 7-12 kg rong tươi trên mỗi mét vuông, rong bám vào đá nhờ đĩa bám hay hệ thống rễ giả, rễ bò phân nhánh. Thân rong có trục chính, trên đỉnh phân thành các nhánh chính và các nhánh bên. Trên các nhánh có các cơ quan dinh dưỡng gần giống như lá và các túi chứa không khí gọi là phao.

Trên thế giới, rong mơ được tìm thấy khắp các vùng biển nhiệt đới, ngoài ra còn phân bố ở Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Úc... với hàng trăm loài rong mơ và 10 ngàn loài rong biển khác. Tên Sargassumđược các thủy thủ Bồ Đào Nha đặt tên vì tìm thấy nhiều rong mơ ở biển Sargasso gần Bồ Đào Nha.

Đa số loài rong mơ có cây đực và cây cái riêng, khi rong đạt kích thước tối đa, chúng sẽ mọc ra các nhánh ngắn gọi là nhánh phụ, trên đó có cơ quan sinh sản. Sự thụ tinh chỉ xảy ra với các giao tử đực và cái đã được phóng thích vào nước biển, hợp tử sẽ phát triển liền ngay sau đó, chúng bám vào các bờ đá hoặc san hô chết để phát triển thành cây mầm. Khi đạt tới khoảng 4 - 5 cm, cây mầm bắt đầu phát triển nhanh thành cây rong mơ. Các bãi rong mơ ở vùng triều thường do cách sinh sản hữu tích tạo nên. Sinh sản dinh dưỡng thường xảy ra từ phần gốc hay những đoạn đứt của cây cũ sống trôi nổi theo dòng triều có thể phát triển thành cây mới.

Rong mơ có giá trị kinh tế cao do có trữ lượng lớn, các sản phẩm của rong mơ được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm, hóa học, sinh học và y học. Rong mơ còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa hệ sinh thái môi trường biển, nơi sinh sống và sinh sản của sinh vật biển. Rong mơ xuất hiện rộ từ tháng 11 đến tháng 7 năm sau, nhưng mùa vụ khai thác chủ yếu từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm khi rong đạt kích thước lớn, trữ lượng ước tính khoảng 30.000 - 35.000 tấn.

Rong mơ ở Ninh Thuận:

Biển Ninh Thuận được trải dài hơn 105 km, diện tích vùng biển nội thủy 1.800 km 2, vùng lãnh hải rộng 18.000 km 2, vùng đặc quyền kinh tế 24.000 km 2. Theo kết quả điều tra trước đây của Viện Hải Dương học Nha Trang về nguồn lợi thủy sản thì vùng biển Ninh Thuận có 188 loài rong biển. Trong đó chỉ rong mơ - Sargassumkhoảng 18 loài, có trữ lượng lớn nhất. Các loài phổ biến ở Ninh Thuận như rong lá mơ ( S. oligocystum), rong mơ nhiều phao ( S. polysystum), rong lá mơ Mcclurei ( S. mcclurei), rong mơ lá dày ( S. crassifolium), rong mơ phao nhỏ ( S. microcystum), rong mơ bìa đôi ( S. duplicatum), rong lá mơ ( S. denticarpum), rong lá mơ Swartz ( S. swartzii)... Mùa vụ khai thác rong mơ tự nhiên ở Ninh Thuận chủ yếu từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm, trữ lượng ước tính hơn 6.000 tấn tươi.

Trong 4 tháng vừa qua, liên tục từ tháng 2-2011 đến cuối tháng 5-2011, hằng ngày có không dưới 300 người từ Cà Ná, Sơn Hải, Đông Hải, Mỹ Tân, Bình Tiên... đổ xô ra biển thu hoạch rong mơ. Mỗi người thu hoạch khoảng 100 kg rong mơ tươi, phơi nắng một ngày còn lại khoảng 34 kg rong khô (khô 1 nắng); tỉ lệ tươi/khô là 3/1. Chỉ một ngày phơi nắng ngay trên bờ biển, rong khô bán với giá 5.000 đ/kg, nếu số lượng từ 100 kg khô trở lên thì có người đến mua tại chỗ phơi, như vậy một lao động kiếm được hơn 100.000 đ/người/ngày. Năm 2011, mưa nhiều, gió Bấc kéo dài, rong mơ được mùa, ước tính sản lượng khai thác 1.000 tấn khô (3.000 tấn rong tươi).

Với hình thức thu hái thủ công theo kiểu “nhổ tận gốc, bứng tận ngọn” tập trung ở vùng nước cạn độ sâu khoảng 2-5 m. Khai thác cả cây con đang lớn, thu hái toàn “thân, lá, rễ” của cây rong mơ một lần trong chu kỳ sống, làm giảm lượng bào tử của cây rong trưởng thành và như vậy sẽ làm giảm diện tích phân bố rong tự nhiên cho những mùa sau. Ngoài ra cách thu hoạch như vậy còn làm giảm sản lượng và chất lượng rong khô nguyên liệu.

Sử dụng rong mơ:

Vách tế bào rong mơ có chứa axit alginic là một loại polysaccharit có giá trị, tạo nên nhũ tương mịn và bền được dùng nhiều trong công nghiệp dệt, giấy, sơn, cao su, phim ảnh, đồ trang điểm, công nghệ thực phẩm... Ngoài ra, rong mơ có chứa iot (45,3mg% - 60mg%), axit alginic, alginat, chất béo, đường, canxi photphat, sắt... và trong rong mơ còn có 23 nguyên tố là Al, Si, Mg, Ca, Sr, Ba, Fe, V, Mor, Ti, Co, Ni, Cr, Sn, As, Bi, Cu... và 17 axit amin rất cần thiết cho người. Rong mơ đã được nhân dân biết đến và sử dụng từ lâu, cách sử dụng truyền thống như làm phân bón cho các loại thuốc lá, khoai lang, hành tỏi. Ở Việt Nam , việc dùng rong mơ làm thực phẩm không nhiều như ở Nhật Bản hay Trung Quốc, thường chỉ dùng một vài loài như rong mơ vàng ( S. flavicans) rong mơ chum ( S. carpophyllum), rong mơ mềm ( S. tenerrimum) để nấu canh, kho với thịt cá. Hiện một số hiệu thuốc đông y thường bán rong mơ khô như một loài dược thảo để chữa bướu cổ. Thực tế cho thấy, ở một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản... họ không chỉ khuyến khích khai thác rong mơ hợp lý mà còn tiến hành trồng rong mơ tại các vùng biển.

Công nghệ chế biến keo alginat (dạng dịch, dạng bột) từ rong mơ Việt Nam đã được triển khai (tp. Hồ Chí Minh và Nha Trang). Những năm gần đây rong mơ được khai thác và cung cấp chủ yếu để làm trà rong biển (Công ty Hùng Phát ở tp. HCM), làm phân hữu cơ bón gốc và bón lá cho cây trồng (Công ty Thiên Sinh, Humix ở tp. HCM...). Một số Công ty nước ngoài (Trung Quốc, Nhật Bản) đang xúc tiến việc thu mua nguyên liệu rong biển ở các tỉnh miền Trung trong đó có Ninh Thuận. Vì vậy giá nguyên liệu thu mua thô hiện nay có giá 5.000 - 7.000 đồng/kg khô.

Đặc biệt trong vài năm gần đây rong mơ được chú ý như nguồn sinh khối khổng lổ, dễ nuôi trồng, mau phát triển và lại cũng dễ khai thác dùng làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học. Hai thành phần chính của rong là fucoidan và acid alginic được chuyển hóa thành nhiên liệu nhờ các enzyme. Đầu tháng 11/2008 một dự án hợp tác giữa Hàn Quốc và Indonesianhằm trồng rong ở các đảo Maluku, Belitung và Lombokđể sản xuất biodiesel theo công nghệ Italia. Nhưng tham vọng hơn cả là Nhật Bản bắt đầu triển khai từ tháng 3/2007, họ sử dụng 10.000 km 2mặt nước để trồng loài rong mơ Sargassum hondawaranhằm sản xuất mỗi năm 20 triệu mét khối bioethanol, nghĩa là tương đương với 1/3 nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu của nước này.

Quan trọng hơn nữa, rong mơ còn chứa một lượng khá lớn nguyên tố Strontium (Sr) với lượng tích tụ cao hơn khoảng 100 lần hàm lượng trong nước biển, vì Sr là thành phần của chất thải phóng xạ nên tính chất này của rong mơ góp phần làm sạch chất thải phóng xạ trong nước biển. Người ta còn phát hiện chất natri alginat chiết từ rong mơ có thể chữa được bệnh nhiễm phóng xạ vì chất này uống vào sẽ hấp thu Sr phóng xạ đã bị nhiễm trong cơ thể rồi thải ra ngoài.

Bảo vệ nguồn lợi rong mơ:

Rong mơ có khả năng điều tiết và cân bằng các chu trình vật chất của hệ sinh thái ven bờ trong chuyển hóa chuỗi thức ăn, tạo dựng nền đáy và nơi sinh cư cho các loài thủy sinh khác. Công nghệ khai thác rong mơ tiên tiến nhất hiện nay trên thế giới là dùng tàu lớn có cần trục dài 10 - 15 m gắn với hệ thống dây xích cắt cuộn rong mơ từ nền đáy, để lại phần gốc chỉ thu từ phần thân gốc đến ngọn và đưa lên tàu.

Hiện nay việc khai thác rong mơ đang diễn ra một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch tại nhiều địa phương. Phương thức khai thác chủ yếu là “nhổ tận gốc, bứng tận ngọn” đã làm cho rong mơ bị suy giảm về sinh khối và diện tích phân bố gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái biển. Tuy nhiên, việc khai thác hợp lý và bền vững nguồn tài nguyên này đang là vấn đề cần quan tâm. Để quản lý và khai thác nguồn lợi rong mơ một cách bền vững, đề nghị thực hiện một số giải pháp sau: Tuyên truyền rộng rãi cho nhân dân biết về nguồn lợi, giá trị của rong mơ đối với môi trường sống, đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển cho cộng đồng cư dân sinh sống và khai thác rong biển trong địa bàn tỉnh; Kế hoạch khai thác phải được nghiên cứu trình tự một cách cẩn thận về sinh lượng, sinh sản, tái sinh, phát tán bào tử để xác định thời gian thu hoạch, lượng thu hoạch, mà không ảnh hưởng đến sản lượng; Phổ biến mùa vụ khai thác hợp lý, khai thác chọn lọc cây rong lớn trước và cắt thu hoạch để lại 10-15 cm phần thân gốc tiếp tục phát triển để thu hoạch lần 2; Tăng cường sức mạnh của các tổ chức cộng đồng trong việc ngăn chặn các nghề khai thác rong mơ mang tính hủy diệt nguồn lợi và phá hủy môi trường; Khai thác hợp lý có tác dụng tốt là vừa tận dụng được tài nguyên rong mơ thiên nhiên, vừa đảm bảo và phát triển được tài nguyên ấy;

Thu hái rong mơ như vậy tăng thêm thu nhập cho những người nông nhàn - ngư nhàn và lao động chưa có việc làm ổn định. Tuy nhiên cần bảo vệ có hiệu quả và duy trì năng suất sinh học cao của rong mơ, đóng góp cho việc khai thác hợp lý, bền vững thì việc điều tra nghiên cứu trữ lượng và phương thức quản lý tổng hợp nguồn lợi rong mơ ven bờ là rất cần thiết. Cần có đề tài khoa học nghiên cứu và đề ra các giải pháp quản lý và bảo vệ khả thi nhằm duy trì sản lượng khai thác 1.000 tấn rong mơ khô tại Ninh Thuận hàng năm.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.