Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 17/02/2011 19:41 (GMT+7)

Người mở đường cho học thuyết vô khuẩn

Nhiễm khuẩn lan tràn

Năm 325, Hoàng đế Constantinus nghĩ rằng, đạo Cơ đốc là một tôn giáo mang tính nhân văn nhất thời đại của mình và đã thuyết phục được Hội đồng Giám mục Nicaea xây dựng cơ sở chăm sóc người bệnh cho từng thành phố. Rất có thể đây là những bệnh viện đầu tiên trên thế giới nhưng theo tiêu chuẩn hiện nay thì quá lạc hậu. Ở các bệnh viện này, bệnh nhân được xếp vào các buồng bệnh một cách ngẫu nhiên, cho dù họ có mắc bệnh nhiễm trùng hay không. Các bệnh dễ lây lan xâm nhập vào buồng bệnh và lây nhiễm cho nhiều bệnh nhân mắc bệnh khác. Đối với các bệnh nhân phẫu thuật thì ít khi tránh khỏi biến chứng nhiễm trùng vết mổ. Việc khử trùng tay và dụng cụ hầu như chưa đặt ra.

Cho đến những năm 1800, tình trạng ô nhiễm trong bệnh viện không cải thiện được bao nhiêu. Hệ thống nước, hệ thống xử lý chất thải rất thô sơ, lạc hậu. Phẫu thuật viên thường lau chùi dụng cụ trên chính quần áo của mình. Hiếm khi vải trải giường cho người bệnh mới được thay. Nhiễm khuẩn lan tràn dữ dội. Đặc biệt, tại các khoa sản, nhiễm khuẩn trong thời kỳ sinh nở là mối hiểm họa cho người mẹ. Lúc bấy giờ, chỉ có một vài người có tầm nhìn xa trông rộng, ý thức được mối tương quan giữa nhiễm bẩn và bệnh tật.

Vào những năm cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, tại nhiều bệnh viện ở châu Âu, tỷ lệ tử vong của sản phụ thường rất cao, có khi đến 1/3 số trường hợp vào sinh đẻ. Họ bước chân vào phòng sinh với tâm trạng lo âu, hồi hộp và nghĩ đến cái chết luôn chờ đợi ám ảnh. Lúc bấy giờ, nhiều bệnh lây nhiễm đã được xác định nhưng phải đến khi ông Semmelweis mới chứng minh được sốt hậu sản là do lây nhiễm.

Ði tìm chân lý

Alexandre Gordon là người đầu tiên xác định được yếu tố nguy cơ gây nên chứng sốt hậu sản. Qua kết quả khảo sát của chính mình về vụ dịch sốt hậu sản tại Aberdeen, Scotlandvào năm 1793, ông đã công bố chuyên khảo Bàn về vụ dịch sốt hậu sản tại Aberdeen , trong đó ông xác nhận thầy thuốc là người lây truyền sự nhiễm trùng cho các sản phụ.

Tiếp theo, Oliver Wendell Holmes, trong một tiểu luận lịch sử Sự lây truyền của sốt hậu sản công bố vào năm 1843 cũng trình bày một quan niệm tương tự. Ông khẳng định, bệnh sẽ lây truyền từ người này sang người khác và thầy thuốc tình cờ đóng vai trò quyết định. Tiểu luận của Holmes không gây một tiếng vang nào cho các thầy thuốc sản khoa thời bấy giờ.

Tuy nhiên, Ignaz Philipp Semmelweis, thầy thuốc sản khoa người Hungary đã khẳng định, sốt hậu sản do lây nhiễm. Ông chứng minh được rằng, tỷ lệ tử vong của người mẹ sẽ giảm đi đáng kể nếu như thầy thuốc ngâm tay vào dung dịch calcium chloride trước khi đỡ đẻ. Qua theo dõi sát sao, ông ghi nhận sự khác biệt giữa hai tỷ lệ tử vong của hai khoa sản trong bệnh viện. Khoa thứ nhất được dùng để hướng dẫn sinh viên. Những sinh viên này từ phòng phẫu tích tử thi không rửa tay đi thẳng vào phòng đẻ để thực tập. Tỷ lệ tử vong ở đây rất cao từ 12 - 30%. Trong khi đó, khoa thứ hai chỉ dùng để hướng dẫn nữ hộ sinh, họ không tham gia phẫu tích tử thi thì tỷ lệ sản phụ chết hoặc sốt hậu sản và tử vong chỉ 3%. Ông phỏng đoán rằng, nguyên nhân của sốt hậu sản là do bàn tay chứa tác nhân gây bệnh do không rửa tay của các bác sĩ và sinh viên y khoa.

Đến năm 1847, một người bạn của Semmelweis, bác sĩ Kollestschka tử vong do nhiễm trùng huyết vì một sinh viên vụng về chích vào đầu ngón tay ông trong khi mổ xác một phụ nữ chết do sốt hậu sản. Từ bản tường trình về trường hợp tử vong này, một ý tưởng bất chợt lóe lên trong trí óc ông. Thật bất ngờ đến kỳ lạ: dấu hiệu của bác sĩ Kollestschka giống như dấu hiệu của sản phụ tử vong do sốt hậu sản. Semmelweis nhận thức được rằng, sốt hậu sản là một bệnh nhiễm khuẩn huyết và từ phòng phẫu tích tử thi, chính thầy thuốc và sinh viên đã lây truyền bệnh này cho người mẹ. Như vậy, tất cả đã rõ ràng: những bàn tay nhiễm bẩn gây nên chứng sốt hậu sản.

Cuộc đời thăng trầm

Tháng 5/1847, Semmelweis đưa ra một biện pháp tích cực: “Bất cứ ai khám sản phụ, trước khi vào phòng đẻ, phải rửa tay bằng xà phòng rồi ngâm tay vào dung dịch chloride”. Tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng giảm đi nhanh chóng. Tháng 4, khi chưa áp dụng biện pháp này, tỷ lệ tử vong là 18%. Tháng 7, sau khi áp dụng, tỷ lệ tử vong chỉ còn 1%.

Semmelweis đã yêu cầu các bác sĩ phải rửa tay trước khi thăm khám cho sản phụ. (Ảnh: Corbis)

Tuy nhiên, tại thời điểm đó, nhiều người cho rằng, khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với người bệnh của Semmelweis làquá nhiều và không có bác sĩ nào chấp nhận. Thậm chí, họ không thừa nhận, đôi bàn tay không rửa củahọ chính là nguyên nhân gây tử vong cho sản phụ. Một số người khác thì cho rằng kết quả nghiên cứu của ông là thiếu bằng chứng khoa học. Năm 1849, ông bị sa thải khỏi bệnh viện Viencevà tới làm việc ở Khoa sản phụ, Bệnh viện Pest’s St. Rochus Hospital tại Hungary. Năm 1850, ông buộc phải trở về quê hương trong đau đớn và thất vọng. 4 năm sau, ông làm việc tại Bệnh viện St.Rochus, thành phố Pest, Hungary. Tại đây, trong suốt 6 năm, Semmelweis tìm cách chứng minh chân lý học thuyết của mình.

Ý tưởng của ông chỉ được chấp nhận một cách hạn chế. Mặc dù ở các khoa phòng khác, tỷ lệ nhiễm khuẩn vẫn còn cao nhưng chứng sốt hậu sản dần dần biến mất ở những bệnh nhân của Semmelweis. Phương pháp khử trùng của ông thành công rực rỡ, ngăn chặn được chứng nhiễm trùng huyết sau sốt hậu sản. Ông không chỉ khử trùng tay của những người phục vụ mà còn khử trùng cả dụng cụ, bơm tiêm, băng gạc, thậm chí cả chăn màn, quần áo. Và tỷ lệ tử vong chỉ còn 8. Năm 1856, ông được phong hàm giáo sư tại Học viện Pest.

Cho tới năm 1860, Bệnh viện Vience vẫn coi ông ta là kẻ phản bội,mặc dù chính ông khi còn làm việc tại bệnh viện đó, là người xoá tỷ lệ tử vong do sốt cao ở trẻ sơ sinh từ 35/101 trường hợp bị tử vong.

Năm 1861, Semmelweis công bố chuyên khảo Căn nguyên, khái niệm và phòng ngừa chứng sốt hậu sản. Ở đó, các dữ liệu về căn nguyên và cách phòng ngừa chứng sốt hậu sản được trình bày cực kỳ rõ ràng. Mặc dù đây là tác phẩm kinh điển trong y học nhưng nó không gây một tiếng vang đáng kể đối với các bác sĩ sản khoa trên thế giới thời bấy giờ.

Ngày nay, ở Hungary người ta lập nên Bảo tàng Semminweis, Bệnh viện Semminweis. Tại Áo, người ta thành lập Bệnh viện sản khoa Semminweis và ông đã được ghi nhận là người mở đường cho học thuyết về vô trùng và học thuyết về nhiễm khuẩn bệnh viện.

Xem Thêm

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.

Tin mới

Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.