“Ngô mũi mác” LVN-184 và kỹ thuật trồng dầy
Ba giống ngô mới của Viện được khảo nghiệm rộng tại Thái Bình là: LVN - 45 (ĐP-5), LVN-184 và LVN-154. Cùng với đánh giá giống, một thực nghiệm trồng dầy cũng đã được tiến hành trên một số họ nông dân ở Minh Quang - Vũ Thư và Vũ Bình - Kiến Xương. Kết quả của mô hình trình diễn này đã mở ra một triển vọng mới để đưa năng suất trung bình của ngô ở Thái Bình lên một nấc mới.
Với kết quả khảo nghiệm giống, LVN-184 được đánh giá là giống ngô mới cho năng suất vượt trội và có nhiều ưu thế nổi bật. Nếu giống LVN-184 là giống ngô đang được trồng phổ thông với diện tích vài ngàn ha trên đất bãi, đất sau đậu tương hè thu được lấy làm nền cho việc so sánh trên thì những điểm nổi của LVN-184 là:
Thời gian sinh trưởng: chín sớm, từ gieo đến thu hoạch ngắn hơn LVN-4 vài ngày, tuy không nhiều nhưng với TGST này nó được xem như một lợi thế. Lợi thế thứ 2 là dạng hình và chiều cao: Nếu LVN-4 có chiều cao bình quân từ 2,4 đến 2,5m thì LVN chỉ khoảng 2,1 đến 2,2m, chiều cao đóng bắp thấp 95-98cm và đường kính thân to là một đặc điểm quý đối với khiến cả hai mô hình trình diễn nó vẫn đứng vững sau trận dông lốc giữa tháng 11; với trận lốc kèm theo mưa đá, các giống cùng tham gia hầu như bị đổ thì LVN -184 vẫn an toàn. Cái đặc biệt khiến người ta nhìn và thấy thích thú, đánh giá cao với giống này là dạng cây đẹp, lá rất gọn, góc lá với thân hẹp, trước giai đoạn xoáy nõn lá ngô nhọn và chĩa như mũi mác nên dân gọi là giống “ngô mũi mác” . So với LVN-4 thì đường kính bắp của LVN 184 khá to, lá bao kín, hạt sâu cay và dạng hình bán răng ngựa. Tẽ hạt dễ.
Hạn chế của LVN-184 là có độ đồng đều chưa cao, màu sắc hạt vàng nhạt, ít hấp dẫn và chiều dài bắp ngắn hơn LVN-4 cũng như các giống khác cùng thử nghiệm. Hai mô hình trình diễn ở Thái Bình, một trên đất nội đồng sau đậu tương hè thu, một trên đất bãi phù xa ven sông cho năng suất vượt đối chứng là LVN-4 từ 12-18%.
Với thực nghiệm trồng dầy nâng mật độ trồng bằng rút khoáng cách hàng sông bình thường từ 70 - 75cm xuống 55 cm, khoảng cách hàng con 30 cm, tức là tăng một vạn cây /ha, năng suất các hạt giống khác chỉ tăng 7 - 8% thì LVN-184 đã tăng tới gần 12%. Trong điều kiện ảnh hưởng nặng do mưa lớn đầu và giữa vụ, nhất là giai đoạn ngô vào chắc của vụ thu đông 2006, ở hộ trồng dầy tại Minh Quang - Vũ Thư đã cho năng suất ngô hạt khô đạt gần 6,2 tấn/ha, năng suất tiềm năng tới gần 7,5 tấn/ha (năng suất ngô hạt trung bình ở Thái Bình trên đất nội đồng và đất bãi khoảng 5,5 tấn/ha). Như vậy, ở mô hình này, yếu tố giống mới và thay đổi canh tác bằng cách tăng mật độ đã đưa năng suất ngô tăng 25 - 30% so với bình thường . Vụ xuân năm nay sẽ tiếp tục kiểm chứng trên một số giống ngô có dạng hình nhọn như LVN -184 và LNS - 222. Hy vọng những tiến bộ về giống và kỹ thuật canh tác hợp lý, phân bón cân đối sẽ đưa năng suất ngô bình quân của chúng ta lên ngang tầm khu vực và thế giới.








