Nghiên cứu và ứng dụng CNSHNN ở Việt Nam
Công nghệ gen
Các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đã tiến hành lập bản đồ một số gen về cây trồng như: gen bất dục đực nhạy cảm với nhiệt độ của cây lúa làm cơ sở tạo dòng bất dục mẫn cảm nhiệt độ (TGMS) sử dụng trong việc chọn tạo giống lúa lai 2 dòng; gen tms 6 nằm trên nhiễm sắc thể 4 quy định tính đa phôi ở lúa, gen kháng bệnh đạo ôn, bạc lá, rầy nâu ở lúa.
Đã phân lập, tách chiết một số gen có giá trị sử dụng như gen chịu hạn ở ngô, gen virut H5N1, gen kháng virut gumboro...
Phương pháp tạo giống chống chịu với bệnh hại (rầy nâu, khô vằn, bạc lá) và các tác nhân bất lợi của môi trường (phèn, mặn, hạn...) bằng dấu chuẩn phân tử ở lúa, ngô đã bước đầu ứng dụng vào thực tế.
Phương pháp chỉ thị phân tử được ứng dụng trong tạo giống lợn, bò. Các nhà khoa học đã phát hiện gen Halothan liên quan đến tỷ lệ nạc và khả năng chống stress của lợn; gen Kappa-casein và β-lactolobulin điều khiển năng suất và chất lượng sữa bò; gen hoocmon liên quan đến tốc độ sinh trưởng và thành phần thịt xẻ của lợn và gen quy định giới tính bò để xác định giới tính phôi 7 ngày tuổi.
Trong lâm nghiệp, bước đầu ứng dụng isozyme và chỉ thị phân tử chọn giống keo, bạch đàn, lát hoa và bảo tồn nguồn gen cây rừng.
Một số nghiên cứu về chuyển gen đã được tiến hành trên lúa, ngô, cải bắp, cây lâm nghiệp...; tuy nhiên còn dùng ở phòng thí nghiệm do chưa có quy chế về an toàn sinh học.
Công nghệ tế bào và phôi
Đã phát triển được công nghệ vi nhân giống cây lâm nghiệp, hoa, cây cảnh, mía, chuối... Xây dựng được hệ thống phòng thí nghiệm nhân giống bằng nuôi cấy mô ở các địa phương và cơ sở sản xuất.
Công nghệ đơn bội hỗ trợ cho tạo giống đã phát huy được hiệu quả, đặc biệt là đối với cây lúa. Phòng thí nghiệm nuôi cấy bao phấn tạo dòng thuần đã hình thành ở hầu hết các nhóm nghiên cứu lúa, hàng năm sản xuất ra hàng ngàn dòng thuần phục vụ cho nhu cầu khác nhau của nghiên cứu và tạo giống.
Đối với ngô, công nghệ nuôi cấy bao phấn, nuôi cấy noãn chưa thụ tinh, công nghệ sử dụng dòng kích tạo đơn bội được nghiên cứu và đưa vào sử dụng tạo giống. đã tạo ra được một số cặp ngô lai có triển vọng trên cơ sở ứng dụng công nghệ đơn bội. Kỹ thuật tạo đột biến tế bào soma, cứu phôi, chẩn đoán bệnh cây trồng, nhân giống cây sạch bệnh cũng được nghiên cứu, ứng dụng và bước đầu cho sản phẩm.
Trong chăn nuôi, đã hoàn thiện công nghệ nâng cao hiệu quả sinh sản của gia súc, gia cầm như thụ tinh nhân tạo cho bò, lợn, gà, ngỗng, ngan lai vịt; cấy truyền phôi bò; sản xuất tinh, phôi tươi và đông lạnh. Các nghiên cứu về cắt phôi, thụ tinh trong ống nghiệm cũng đã đạt được kết quả ban đầu.
Công nghệ vi sinh vật
Đã nghiên cứu chế tạo thành công một số sản phẩm phục vụ nông nghiệp như: phân bón vi sinh vật chức năng, phân bón và thuốc BVTV sinh học; chế phẩm nấm đối kháng phòng trừ bệnh; thuốc diệt chuột sinh học. Sản xuất thành công một số vắcxin đơn giá và đa giá phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; phân lập và chọn tạo một số chủng vi sinh vật để sản xuất chế phẩm phục vụ chế biến phế phẩm nông - công nghiệp; xử lý môi trường giết mổ.
Trong lĩnh vực xử lý môi trường, công nghệ biôga đã được sử dụng rộng rãi. Nhiều nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh để xử lý nước thải, chuyển đổi sinh học các nguồn phụ, phế thải nông, lâm nghiệp cũng đang được tiến hành.
Công nghệ enzyme
Được ứng dụng phổ biến trong chế biến lương thực, thực phẩm giúp tăng chất lượng sản phẩm như: sản xuất đậu tương lên men từ vi khuẩn, tạo hương thơm trên cơ sở chất gạo, ngô và một số loại trái cây ít hương thơm; tạo chế phẩm để bảo quản nông sản - cây trồng và thực phẩm tươi sống.
Việt Nam đã xây dựng được một số phòng thí nghiệm có trang thiết bị tương đối đồng bộ, một số cán bộ dược đào tạo chính quy, có khả năng tiếp cận công nghệ cao và mới nhất, vận dụng chúng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bước đấu ứng dụng CNSH vào sản xuất trong một số lĩnh vực như công nghệ tế bào, phôi, vi sinh, enzyme và prôtein. Gần 70% số tỉnh thành có phòng nuôi cấy mô, tế bào. Nhiều nông dân đã tiếp cận và ứng dụng công nghệ vi sinh và enzyme vào sản xuất thức ăn gia súc, phân bón và thuốc BVTV sinh học. Tuy nhiên so với yêu cầu, CNSH ở Việt Nam vẫn đang đứng trước những khó khăn và thách thức:
Nguồn nhân lực:Số lượng cán bộ nghiên cứu và nhân viên kỹ thuật CNSH còn ít, nhất là trong công nghệ gen. Khả năng tự đào tạo cán bộ có trình độ cao còn hạn chế. Chưa đáp ứng nhu cầu về chất lượng.
Đầu tư: Khu vực tư nhân chưa đóng góp đáng kể trong cơ cấu đầu tư.
Công nghệ: Nghiên cứu CNSH hiện đại hóa mới chỉ dừng ở phòng thí nghiệm.
Tổ chức, triển khai: Chưa có sự phối hợp đa lĩnh vực, đa ngành, đa cơ quan để tập trung giải quyết các vấn đề lớn của nông nghiệp. Nội dung nghiên cứu và triển khai còn dàn trải.
Thương mại hóa các sản phẩm CNSH: Chưa có cơ chế hấp dẫn các doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển và thương mại hóa các sản phẩm CNSH.
Chính sách và hệ thống pháp lý liên quan đến phát triển CNSH: Chưa có “Quy chế về quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng”. Hệ thống văn bản đảm bảo quyền sử hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với các sản phẩm CNSH mới ra đời, chưa được thực thi nghiêm túc và triệt để nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư vào CNSH.
Nguồn: Kinh tế Nông thôn, Số 37 (471), Thứ hai, Ngày 12/9/2005, trang 13.








