Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 11/11/2006 14:15 (GMT+7)

Nghiên cứu và ứng dụng CNSHNN ở Việt Nam

Công nghệ gen

Các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đã tiến hành lập bản đồ một số gen về cây trồng như: gen bất dục đực nhạy cảm với nhiệt độ của cây lúa làm cơ sở tạo dòng bất dục mẫn cảm nhiệt độ (TGMS) sử dụng trong việc chọn tạo giống lúa lai 2 dòng; gen tms 6 nằm trên nhiễm sắc thể 4 quy định tính đa phôi ở lúa, gen kháng bệnh đạo ôn, bạc lá, rầy nâu ở lúa.

Đã phân lập, tách chiết một số gen có giá trị sử dụng như gen chịu hạn ở ngô, gen virut H5N1, gen kháng virut gumboro...

Phương pháp tạo giống chống chịu với bệnh hại (rầy nâu, khô vằn, bạc lá) và các tác nhân bất lợi của môi trường (phèn, mặn, hạn...) bằng dấu chuẩn phân tử ở lúa, ngô đã bước đầu ứng dụng vào thực tế.

Phương pháp chỉ thị phân tử được ứng dụng trong tạo giống lợn, bò. Các nhà khoa học đã phát hiện gen Halothan liên quan đến tỷ lệ nạc và khả năng chống stress của lợn; gen Kappa-casein và β-lactolobulin điều khiển năng suất và chất lượng sữa bò; gen hoocmon liên quan đến tốc độ sinh trưởng và thành phần thịt xẻ của lợn và gen quy định giới tính bò để xác định giới tính phôi 7 ngày tuổi.

Trong lâm nghiệp, bước đầu ứng dụng isozyme và chỉ thị phân tử chọn giống keo, bạch đàn, lát hoa và bảo tồn nguồn gen cây rừng.

Một số nghiên cứu về chuyển gen đã được tiến hành trên lúa, ngô, cải bắp, cây lâm nghiệp...; tuy nhiên còn dùng ở phòng thí nghiệm do chưa có quy chế về an toàn sinh học.

Công nghệ tế bào và phôi

Đã phát triển được công nghệ vi nhân giống cây lâm nghiệp, hoa, cây cảnh, mía, chuối... Xây dựng được hệ thống phòng thí nghiệm nhân giống bằng nuôi cấy mô ở các địa phương và cơ sở sản xuất.

Công nghệ đơn bội hỗ trợ cho tạo giống đã phát huy được hiệu quả, đặc biệt là đối với cây lúa. Phòng thí nghiệm nuôi cấy bao phấn tạo dòng thuần đã hình thành ở hầu hết các nhóm nghiên cứu lúa, hàng năm sản xuất ra hàng ngàn dòng thuần phục vụ cho nhu cầu khác nhau của nghiên cứu và tạo giống.

Đối với ngô, công nghệ nuôi cấy bao phấn, nuôi cấy noãn chưa thụ tinh, công nghệ sử dụng dòng kích tạo đơn bội được nghiên cứu và đưa vào sử dụng tạo giống. đã tạo ra được một số cặp ngô lai có triển vọng trên cơ sở ứng dụng công nghệ đơn bội. Kỹ thuật tạo đột biến tế bào soma, cứu phôi, chẩn đoán bệnh cây trồng, nhân giống cây sạch bệnh cũng được nghiên cứu, ứng dụng và bước đầu cho sản phẩm.

Trong chăn nuôi, đã hoàn thiện công nghệ nâng cao hiệu quả sinh sản của gia súc, gia cầm như thụ tinh nhân tạo cho bò, lợn, gà, ngỗng, ngan lai vịt; cấy truyền phôi bò; sản xuất tinh, phôi tươi và đông lạnh. Các nghiên cứu về cắt phôi, thụ tinh trong ống nghiệm cũng đã đạt được kết quả ban đầu.

Công nghệ vi sinh vật

Đã nghiên cứu chế tạo thành công một số sản phẩm phục vụ nông nghiệp như: phân bón vi sinh vật chức năng, phân bón và thuốc BVTV sinh học; chế phẩm nấm đối kháng phòng trừ bệnh; thuốc diệt chuột sinh học. Sản xuất thành công một số vắcxin đơn giá và đa giá phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; phân lập và chọn tạo một số chủng vi sinh vật để sản xuất chế phẩm phục vụ chế biến phế phẩm nông - công nghiệp; xử lý môi trường giết mổ.

Trong lĩnh vực xử lý môi trường, công nghệ biôga đã được sử dụng rộng rãi. Nhiều nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh để xử lý nước thải, chuyển đổi sinh học các nguồn phụ, phế thải nông, lâm nghiệp cũng đang được tiến hành.

Công nghệ enzyme

Được ứng dụng phổ biến trong chế biến lương thực, thực phẩm giúp tăng chất lượng sản phẩm như: sản xuất đậu tương lên men từ vi khuẩn, tạo hương thơm trên cơ sở chất gạo, ngô và một số loại trái cây ít hương thơm; tạo chế phẩm để bảo quản nông sản - cây trồng và thực phẩm tươi sống.

Việt Nam đã xây dựng được một số phòng thí nghiệm có trang thiết bị tương đối đồng bộ, một số cán bộ dược đào tạo chính quy, có khả năng tiếp cận công nghệ cao và mới nhất, vận dụng chúng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bước đấu ứng dụng CNSH vào sản xuất trong một số lĩnh vực như công nghệ tế bào, phôi, vi sinh, enzyme và prôtein. Gần 70% số tỉnh thành có phòng nuôi cấy mô, tế bào. Nhiều nông dân đã tiếp cận và ứng dụng công nghệ vi sinh và enzyme vào sản xuất thức ăn gia súc, phân bón và thuốc BVTV sinh học. Tuy nhiên so với yêu cầu, CNSH ở Việt Nam vẫn đang đứng trước những khó khăn và thách thức:

Nguồn nhân lực:Số lượng cán bộ nghiên cứu và nhân viên kỹ thuật CNSH còn ít, nhất là trong công nghệ gen. Khả năng tự đào tạo cán bộ có trình độ cao còn hạn chế. Chưa đáp ứng nhu cầu về chất lượng.

Đầu tư: Khu vực tư nhân chưa đóng góp đáng kể trong cơ cấu đầu tư.

Công nghệ: Nghiên cứu CNSH hiện đại hóa mới chỉ dừng ở phòng thí nghiệm.

Tổ chức, triển khai: Chưa có sự phối hợp đa lĩnh vực, đa ngành, đa cơ quan để tập trung giải quyết các vấn đề lớn của nông nghiệp. Nội dung nghiên cứu và triển khai còn dàn trải.

Thương mại hóa các sản phẩm CNSH: Chưa có cơ chế hấp dẫn các doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển và thương mại hóa các sản phẩm CNSH.

Chính sách và hệ thống pháp lý liên quan đến phát triển CNSH: Chưa có “Quy chế về quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng”. Hệ thống văn bản đảm bảo quyền sử hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với các sản phẩm CNSH mới ra đời, chưa được thực thi nghiêm túc và triệt để nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư vào CNSH.

Nguồn: Kinh tế Nông thôn, Số 37 (471), Thứ hai, Ngày 12/9/2005, trang 13.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.