Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 31/07/2007 23:55 (GMT+7)

Nghiên cứu phương pháp kích thích lột xác đồng loạt ghẹ xanh (Portunus pelagicus) thương phẩm

Nhằm nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm ghẹ thương phẩm, Bộ Thủy sản đã giao cho Trung tâm Nghiên cứu NTTS III Nha Trang (nay là Viện Nghiên cứu NTTS III) thực hiện đề tài Nghiên cứu phương pháp kích thích lột xác đồng loạt ghẹ xanh (Portunus pelagicus) thương phẩm nhằm mục đích tìm ra một số yếu tố như thức ăn, sinh lý, hoá học có thể kích thích sự lột vỏ đồng loạt ở ghẹ xanh thương phẩm với tỷ lệ lột vỏ đạt 50%.

Phương pháp nghiên cứu


1. Thời gian và địa điểm


Thời gian: Từ 4/2002 đến 12/2003


Ðịa điểm: Viện Nghiên cứu NTTS III Nha Trang và lồng nuôi trên biển tại Phước Lý Phú Yên


2. Bố trí thí nghiệm


Ghẹ xanh (Portunus pelagicus) được chọn lọc từ khai thác tự nhiên và sản phẩm của nuôi thương phẩm từ con giống nhân tạo, với trọng lượng ban đầu từ 55-70 g/con. Các thí nghiệm được tiến hành trong các bể ximăng và lồng nuôi trên biển.


Nghiên cứu nuôi ghẹ lột tiến hành nhiều thử nghiệm khác nhau về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gây sốc (yếu tố sinh thái: nhiệt độ, độ mặn; chất saponin), các chất kích thích (Chitoxan, hormon 20E (20-hydroxyecdyson), chất kích thích lột vỏ molt & grow) lên khả năng lột xác của 3 nhóm ghẹ không cắt mắt, cắt 1 mắt, cắt 2 mắt. Ðồng thời các kết quả thu được được so sánh với lô đối chứng không sử dụng các yếu tố gây sốc (hoặc các chất kích thích) ở cả 3 nghiệm thức tương ứng. Số lượng ghẹ ở mỗi nghiệm thức là 45 con và 90 con (các nghiệm thức sử dụng chất kích thích). Tỷ lệ đực cái là 1:1. Các thí nghiệm tiến hành trên ghẹ tự nhiên và lập lại ở ghẹ nuôi hay ngược lại. Ngoài ra, ở một số thí nghiệm còn được thực hiện đồng thời ở 2 địa điểm.


3. Thu thập và xử lý số liệu


Trong quá trình thí nghiệm chúng tôi thu thập các số liệu sau: Tỷ lệ sống, tỷ lệ lột xác, tỷ lệ đực/cái lột xác. Số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel.

Kết quả nghiên cứu


1. Các yếu tố gây sốc


Các biện pháp gây sốc trên ghẹ xanh đã không tạo ra sự kích thích lột vỏ, cũng có thể đây là ghẹ lột vỏ theo chu kỳ mà không phải do có sự tác động của gây sốc vì thời gian thí nghiệm kéo dài (50-70
ngày).


Các số liệu trong bảng 1 cho thấy không có sự khác biệt các thông số thí nghiệm giữa ghẹ nuôi và ghẹ tự nhiên. ở nhóm đối chứng, thời gian thí nghiệm có thể kéo dài 60 ngày: ở nhóm thí nghiệm, với nhiệt độ nước 20 -15 0C trong thời gian thí nghiệm 7-12 ngày, tỷ lệ chết của ghẹ khoảng 80-93% và không có cá thể nào lột vỏ.


Bảng 1: Kết quả gây sốc do nhiệt độ. Các nghiệm thức đối chứng nuôi ở điều kiện nhiệt độ bình thường (27-29 oC)


Kết quả gây sốc ghẹ bằng cách hạ độ mặn nước biển tự nhiên xuống độ mặn 10 và 20 0/ 00tương tự như nhau ở ghẹ nuôi và ghẹ tự nhiên (bảng 2). Không có sự khác nhau rõ rệt về tỷ lệ lột vỏ giữa các nghiệm thức thí nghiệm. Những cá thể lột vỏ đa số là con cái, riêng ở lô ghẹ bị cắt 2 mắt có nhiều cá thể đực lột vỏ.


Bảng 2: Kết quả gây sốc do độ mặn. Các nghiệm thức đối chứng nuôi ở điều kiện nước biển tự nhiên có độ mặn 32-33 0/ 00


Giữa các nghiệm thức sử dụng Saponin ở các nồng độ và nghiệm thức đối chứng cũng không có sự khác biệt nhau về tỷ lệ lột vỏ và tỷ lệ sống.


Bảng 3: Kết quả gây sốc ghẹ nuôi bằng chất Saponin. Nghiệm thức đối chứng không sử dụng chất Saponin


2. Sử dụng thức ăn tươi có trộn chất kích thích lột vỏ của giáp xác


Thí nghiệm sử dụng chitoxan trộn vào thức ăn tươi và ngâm trong 1 giờ rồi cho ghẹ ăn 2 lần/ngày đã gợi mở một số vấn đề trong nghiên cứu. So sánh với việc sử dụng các biện pháp gây sốc để kích thích ghẹ lột vỏ thì sử dụng chitoxan trộn vào thức ăn đã rút ngắn được thời gian lột vỏ của ghẹ, nhưng tỷ lệ sống của ghẹ vẫn còn thấp. Vấn đề được đặt ra là nâng cao tỷ lệ sống của ghẹ sau cắt mắt.


Bảng 4 : Kết quả sử dụng chitoxan trộn với thức ăn tươi trong điều kiện nước biển tự nhiên


Số liệu ban đầu thu được khi sử dụng chitoxan trộn vào thức ăn cho ghẹ ăn đã đặt ra 3 vấn đề là: (1) chất kích thích nào phù hợp với ghẹ xanh và nó có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ghẹ sau khi bị cắt 2 mắt không? (2) Chukỳ lột vỏ của ghẹ có thể được rút ngắn lại khi sử dụng chất kích thích lột vỏ của giáp xác không? (3) Khả năng lột vỏ của ghẹ bị cắt 1 mắt so với ghẹ bị cắt 2 mắt?


Ðể có thể hiểu rõ hơn các câu hỏi trên, hai chất kích thích khác đã được chọn để trộn vào thức ăn của ghẹ là hocmon 20E và bột molt & grow.


Bảng 5 : Kết quả sử dụng hocmôn 20E trộn với thức ăn tươi trong điều kiện nước biển tự nhiên


Bảng 6 : Kết quả sử dụng molt & grow trộn với thức ăn tươi trong điều kiện nước biển tự nhiên


Từ các số liệu thu được từ các nhóm ghẹ được ăn thức ăn có trộn chất kích thích lột vỏ của giáp xác có thể nhận thấy: (1) nhóm ghẹ bị cắt 2 mắt được ăn thức ăn trộn hocmon 20E với nồng độ 1 ppm có khả năng đạt được tỷ lệ ghẹ lột vỏ cao trong 25 ngày thí nghiệm, nếu ghẹ sau khi cắt mắt có tỷ lệ sống cao; (2) nhóm ghẹ được ăn thức ăn trộn chitoxan với nồng độ 1% đạt tỷ lệ lột vỏ cao hơn nhóm ghẹ được ăn thức ăn trộn bột molt & grow với nồng độ 10%; (3) nhóm ghẹ bị cắt 1 mắt và nhóm ghẹ không cắt mắt đạt tỷ lệ lột vỏ thấp với thời gian thí nghiệm dài tới 45 ngày.


Bảng 7 : Kết quả sử dụng hocmon trộn với thức ăn tươi trong điều kiện nước biển tự nhiên (Thí nghiệm cắt mắt ghẹ ở nhiệt độ thấp)

Các thông số

Thức ăn tươi + 1 ppm hocmon

Thức ăn tươi + 1 ppm hocmon

Ghẹ tự nhiên

Ghẹ nuôi

Cắt 1 mắt

Cắt 2 mắt

Không cắt mắt

Cắt 1 mắt

Cắt 2 mắt

Không cắt

TT3

Tỷ lệ sống (%)

57,77

75,55

60,00

55,55

82,22

62,00

Tỷ lệ lột vỏ (%)

6,66

71,11

8,88

6,66

75,55

11,11

Tỷ lệ (đực : cái) lột vỏ

1 : 2

1 : 1

0 : 4

0 : 3

1 : 1

1 : 4

Phước Lý

Tỷ lệ sống (%)

60,00

88,88

62,22

57,77

86,66

57,77

Tỷ lệ lột vỏ (%)

8,88

86,66

6,66

4,44

84,44

8,88

Tỷ lệ (đực : cái) lột vỏ

1:3

1:1

0:3

0:2

1:1

0:4


Bảng 8: Kết quả sử dụng chitoxan trộn với thức ăn tươi trong điều kiện nước biển tự nhiên (Thí nghiệm cắt mắt ghẹ ở nhiệt độ thấp)

Các thông số

Thức ăn tươi + 1 % chitoxan

Thức ăn tươi + 1 % chitoxan

Ghẹ tự nhiên

Ghẹ nuôi

Cắt 1 mắt

Cắt 2 mắt

Không cắt

Cắt 1 mắt

Cắt 2 mắt

Không cắt

TT3

Tỷ lệ sống (%)

55,55

88,88

60,00

55,55

82,22

62,00

Tỷ lệ lột vỏ (%)

4,44

84,44

8,88

6,66

77,77

8,88

Tỷ lệ (đực : cái) lột vỏ

0 : 2

1 : 1

0 : 4

0 : 3

1 : 1

0 : 4

Phước Lý

Tỷ lệ sống (%)

62,22

93,33

62,22

55,55

91,11

55,55

Tỷ lệ lột vỏ (%)

8,88

91,11

6,66

6,66

91,11

8,88

Tỷ lệ (đực : cái) lột vỏ

0:4

1:1

0:3

0:3

1 :1

0:4


Sau khi thí nghiệm, còn các nhóm ghẹ khác có tỷ lệ lột vỏ 6-8% với thời gian bắt đầu lột vỏ khoảng 29-30 ngày sau khi thí nghiệm. Ðồng thời tỷ lệ sống của ghẹ sau khi cắt 2 mắt đạt khoảng 82-93%. Như vậy, cũng như sử dụng hocmon trộn vào thức ăn tươi để cho ghẹ ăn, sử dụng chitoxan đã thu được kết quả tốt về tỷ lệ sống và tỷ lệ lột vỏ ở nhóm ghẹ bị cắt 2 mắt.


Sử dụng bột molt & grow với nồng độ 10% trộn với thức ăn tươi thí nghiệm trên ghẹ nuôi và ghẹ tự nhiên đã thu được kết quả ở bảng 9. Ghẹ xanh sau khi cắt mắt được cho ăn thức ăn trộn bột molt & grow ở nồng độ 10% đã đạt được tỷ lệ lột vỏ 31-35% ở nhóm ghẹ bị cắt 2 mắt với thời gian bắt đầu lột vỏ là 20 ngày sau khi thí nghiệm, các nhóm khác có tỷ lệ ghẹ lột vỏ khoảng 4-6% với thời gian bắt đầu lột vỏ là 30 ngày sau khi thí nghiệm.


Ðể kiểm tra lại kết quả sử dụng chitoxan trộn với thức ăn tươi, thí nghiệm đã được lặp lại ở TT3 và Phước Lý. Các số liệu ở bảng 10 cho thấy, không có sự khác biệt về kết quả thí nghiệm giữa nhóm ghẹ nuôi và ghẹ tự nhiên.


Bảng 9 : Kết quả sử dụng molt & grow trộn với thức ăn tươi trong điều kiện nước biển tự nhiên (Thí nghiệm cắt mắt ghẹ ở nhiệt độ thấp)

Các thông số

Thức ăn tươi + 10 % molt&grow

Thức ăn tươi + 10 % molt&grow

Ghẹ tự nhiên

Ghẹ nuôi

Cắt 1 mắt

Cắt 2 mắt

Không cắt mắt

Cắt 1 mắt

Cắt 2 mắt

Không cắt mắt

TT3

Tỷ lệ sống (%)

44,44

48,,88

51,11

44,44

42,22

44,44

Tỷ lệ lột vỏ (%)

4,44

35,55

6,66

6,66

31,11

4,44

Tỷ lệ (đực : cái) lột vỏ

0 : 2

1 : 1

0 : 3

0 : 3

1 : 1

0 : 2

Phước Lý

Tỷ lệ sống (%)

46,66

48,88

46,66

51,11

44,44

46,66

Tỷ lệ lột vỏ (%)

4,44

33,33

6,66

4,44

35,55

6,66

Tỷ lệ (đực : cái) lột vỏ

0 : 2

1 : 1

0 : 3

0 : 2

1 : 1

0 : 3


Bảng 10 : Kết quả sử dụng chitoxan trộn với thức ăn tươi trong điều kiện nước biển tự nhiê n(Thí nghiệm cắt mắt ghẹ ở nhiệt độ thấp)

Các thông số

Thí nghiệm ở Phước Lý

Thí nghiệm ở TT3

Thức ăn trộn 1 % chitoxan

Thức ăn trộn 1 % chitoxan

Không cắt mắt

Cắt 2 mắt

Không cắt mắt

Cắt 2 mắt

Ghẹ nuôi

Tỷ lệ sống (%)

97,77

97,77

97,77

97,77

Tỷ lệ lột vỏ (%)

5,55

95,55

7,77

93,33

Tỷ lệ (đực : cái) lột vỏ

0 : 5

1 : 1

1 : 7

1 : 1

Ghẹ nhân tạo

Tỷ lệ sống (%)

97,77

97,77

96,66

96,66

Tỷ lệ lột vỏ (%)

4,44

95,55

6,66

93,33

Tỷ lệ (đực : cái) lột vỏ

0 : 4

1 : 1

0 : 6

1 : 1


3. Một số yếu tố môi trường và kỹ thuật nuôi ghẹ lột


3.1. Một số yếu tố môi trường


Khi nuôi ở các bể xi măng với điều kiện sục khí 24/24 giờ và thay nước 100%/ngày, yếu tố thủy lý và thủy hoá như nhiệt độ nước dao động 25-29 0C, độ muối 30-33 0/ 00, oxy hoà tan 6,2-6,5mg/l và pH khoảng 7,8-8,0 là hoàn toàn phù hợp với đời sống của ghẹ nuôi. Ðối với các thí nghiệm bố trí nuôi ở bè trên biển, các yếu tố môi trường này cũng nằm trong tiêu chuẩn nuôi thuỷ sản, cụ thể là nhiệt độ nước khoảng 26-30 0C, độ muối 29-33 0/ 00, oxy hoà tan 6,2-6,5 mg/l và pH khoảng 8-8,5. Nghĩa là trong điều kiện môi trường tự nhiên, có thể tiến hành nuôi và thu ghẹ lột.


3.2. Kỹ thuật nuôi và thu ghẹ lột


Từ kết quả thí nghiệm thu được, có thể tập hợp một số thông số kỹ thuật về nuôi và thu hoạch ghẹ lột quy mô nhỏ (bảng 11). Tuy nhiên, các thông số này vẫn cần kiểm nghiệm lại trong những nghiên cứu tiếp theo.

Bảng 11 : Một số thông số kỹ thuật về nuôi và thu hoạch ghẹ lột

Số TT

Các thông số

Yêu cầu kỹ thuật

1

Hình thái ngoài và trọng lượng ghẹ

Ghẹ chắc: 50-70 g/con

2

Môi trường nuôi

Nước biển tự nhiên

3

Kỹ thuật cắt mắt

Cắt 2 mắt bằng panh được khử trùng ở nhiệt độ nước 20 -2 0C

4

Thức ăn

Cá tạp tươi.

5

Lượng cho ăn (% khối lượng ghẹ)

10-20%/ ngày/lần x 2 lần

6

Chitoxan ngâm với TA trong 1 giờ

1g chitoxan / 100 g thức ăn

7

Thay nước (nếu ở bể xi măng)

100 %/ ngày

8

Thời gian nuôi (ngày)

14

9

Thời gian thu hoạch ghẹ lột

từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 14

10

Thời điểm vớt ghẹ lột ra ngoài

15- 20 phút sau khi ghẹ lột vỏ

11

Bảo quản sản phẩm

Tủ lạnh có nhiệt độ âm 20 0C

Kết luận


Từ những kết quả nghiên cứu đã thu được, có thể rút ra các kết luận sau :


1. Các biện pháp gây sốc ghẹ xanh bằng nhiệt độ, độ muối, saponin đã không tạo ra sự kích thích lột vỏ ở nhóm ghẹ không bị cắt mắt và nhóm ghẹ bị cắt mắt.


2. Xử lý ghẹ xanh bằng phương pháp cắt 2 mắt ở nhiệt độ 20-22 0C, sau đó cho ghẹ ăn bằng thức ăn thức ăn tươi (cá, tôm.. .) được trộn với các chất kích thích lột vỏ của giáp xác là hocmon 20E với nồng độ 1 ppm đã đạt được tỷ lệ lột vỏ khoảng 71-75% trong 20 ngày nuôi, hoặc là chitoxan với nồng độ 1% đã đạt được tỷ lệ lột vỏ đồng loạt khoảng 77- 95% trong 14 ngày nuôi.


3. Giữa hai nhóm ghẹ thí nghiệm là ghẹ nuôi và ghẹ tự nhiên không có sự khác biệt về tỷ lệ sống và tỷ lệ lột vỏ. Có thể sử dụng cả hai nguồn nguyên liệu này để sản xuất ghẹ lột.

Nguồn: Tạp chí thuỷ sản, 21/11/2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.