Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 28/04/2011 22:06 (GMT+7)

Nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý nước thải mỏ than Na Dương

1. Hiện trạng nước thải và công nghệ xử lý mỏ than Na Dương

Hiện nay, nước thải mỏ than Na Dương chủ yếu là nước thải được bơm từ moong khu III vỉa 4 lên mức +280. Chất lượng nước thải từ moong khu III vỉa 4 được thể hiện trong bảng 1. So sánh kết quả theo dõi chất lượng nước moong khu III vỉa 4 với QCVN 24:2009/BTNMT (B), áp dụng với giới hạn nồng độ tối đa cho phép (Cmax) cho thấy:

- Nước thải có tính axit mạnh, giá trị độ pH dao động từ 2,1¸2,36, không đạt QCVN (5,5¸9)

- Hàm lượng sắt (Fe) trong nước thải cao, dao động từ 473,36¸498,05 mg/l, vượt QCVN từ 105,19¸110,67 lần.

STT

Các thông số

Đơn vị

Nước thải moong khu III                               vỉa 4 mỏ Na Dương

Cmax

QCVN (B) 24:2009/BTNMT

Ngày lấy mẫu

6/10/2008

22/8/2009

1

pH

mgCaCO3/l

2,36

2,10

-

5,5¸9

2

Độ cứng toàn phần

mg/l

730

1300

-

-

3

BOD 5

mg/l

27,0

20,5

45

50

4

COD

mg/l

43,90

31,39

90

100

5

NO 2-N

mg/l

0,206

0,301

-

-

6

NO 3

mg/l

0,51

0,67

7

TDS

mg/l

5270

5780

-

-

8

TSS

mg/l

68

60

90

100

9

SO 42-

mg/l

5.059,0

4.502

-

-

10

Fe

mg/l

473,36

498,05

4,5

5

11

Mn

mg/l

9,79

8,23

0,9

1

12

Al

mg/l

0,018

0,018

-

-

13

Pt

mg/l

0,058

0,059

-

-

14

Hg

mg/l

0,0003

0,0003

0,009

0,01

15

Cd

mg/l

0,0057

0,0068

0,009

0,01

16

Pb

mg/l

0,0039

0,0047

0,045

0,5

17

As

mg/l

0,0059

0,0066

0,09

0,1

18

Dầu mỡ

mg/l

0,27

0,45

4,5

5

19

Coliform

MNP/100ml

120

206

0

5.000

- Hàm lượng mangan (Mn) dao động từ 8,23¸9,79 mg/l, vượt QCVN từ 9,1¸10,8 lần.

- Các chỉ tiêu còn lại đều đạt QCVN

Như vậy, qua số liệu về hiện trạng nước thải mỏ than Na Dương có thể rút ra nhận xét là các chỉ tiêu ô nhiễm đặc trưng, cần xử lý trong nước thải mỏ than Na Dương gồm pH, Fe và Mn.

Hiện tại, mỏ đang thực hiện xử lý theo công nghệ trung hòa nước thải với sữa vôi, lắng cặn bằng hệ thống hồ lắng, theo quy trình như sau: Nước thải từ moong khu III vỉa 4 được bom lên mương dẫn mức +280, tại đây, sữa vôi được tháo trực tiếp vào dòng nước thải và hòa trộn tự nhiên trên mương dẫn với chiều dài khoảng trên 500m rồi vào hồ lắng số 1, tiếp theo, được dẫn qua hồ lắng số 2, sau đó nước tràn được xả ra suối Toòng Già. Khâu cấp sữa vôi vào xử lý đang được tiến hành bằng cách, dùng bơm lấy nước từ đầu xả nước moong vỉa 4 để hòa tan vôi trong các hố tôi vôi đã được chuẩn bị sẵn thành dung dịch sữa vôi sau đó cho chảy vào mương dẫn nước thải. Lượng vôi nhiều hay ít được điều chỉnh bằng kinh nghiệm của người vận hành. Với phương pháp vận hành như trên, hiện nay mỏ chủ yếu mới chỉ kiểm soát nước sau xử lý về độ trong và giá trị pH kiểm tra đạt trên 5,5, các giá trị khác thường biến động rất khó có số liệu để đánh giá do tính chất hoạt động không ổn định của hệ thống. Ngoài ra, khu vực các hồ hiện tại nằm trong phạm vi mở rộng mỏ, đồng thời vị trí này không đáp ứng được việc thu gom xử lý nước tập trung của mỏ trong giai đoạn tới và theo tổng thể dự án. Do đó, để đáp ứng tiêu chuẩn xả thải, công suất xử lý và quy hoạch mỏ cần phải nghiên cứu giải pháp xử lý nước thải mới phù hợp.

Theo dự án cải tạo, mở rộng mỏ than Na Dương lên công suất 1,2 triệu tấn/năm, với thời gian tồn tại mỏ khoảng 50 năm đang được xây dựng cho thấy, lượng nước thải mỏ bơm từ các khai trường trong những năm tới khoảng 1.000m 3/h và giai đoạn sau có thể lên tới trên 2.000m 3/h. Do vậy, khi đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải mỏ sẽ có tính đến quy hoạch để có thể nâng công suất của hệ thống, đủ khả năng xử lý khi lưu lượng nước thải của mỏ tăng. Tính chất nước thải của mỏ than Na Dương trong giai đoạn tới được dự báo sẽ không có biến động lớn, các chỉ tiêu ô nhiễm được xác định là pH, TSS, Fe, Mn.

2. Nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp

Việc lựa chọn công nghệ xử lý nước thải mỏ than Na Dương đã được Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin xem xét trên quy trình chung về xử lý nước thải mỏ có tính axit gồm 4 công đoạn chính là: 1- trung hòa nước thải; 2- ô xi hóa sắt và mangan; 3- lắng cặn; 4- xử lý bùn. Để lựa chọn giải pháp tối ưu, Viện đã tiến hành nhiều thí nghiệm để lựa chọn hóa chất trung hòa như sữa vôi, Na 2CO 3, NaOH, kết hợp giữa sữa vôi và Na 2CO 3. Kết quả xử lý thử nghiệm trong phòng thí nghiệm (bảng 2) cho thấy:

- Thử nghiệm chỉ dùng sữa vôi để điều chỉnh pH và kết hợp chất keo tụ

Với thử nghiệm này giải quyết được chỉ tiêu pH của nước thải và các chỉ tiêu đặc trưng khác như Fe, Mn. Tuy nhiên, xảy ra hiện tượng tạo cặn CaSO 4sau 01 ngày lưu nước. Do vậy, nếu chỉ sử dụng giải pháp sữa vôi làm chất điều chỉnh pH thì cần phải có giải pháp thúc đầy nhanh quá trình hình thành kết tủa CaSO 4, hoặc phải có hồ lưu nước đáp ứng thời gian phản ứng.

- Thử nghiệm dùng sữa vôi kết hợp với Na 2CO 3để điều chỉnh pH, kết hợp chất keo tụ

Thử nghiệm đã giải quyết được tất cả các chỉ tiêu cần xử lý. Đặc biệt là giải quyết được vấn đề không sinh ra cặn lắng lớn sau 24 giờ xử lý, do sữa vôi và Na 2CO 3đều là chất kiềm, ngoài ra khi sử dụng hỗn hợp này sẽ tạo phản ứng kết tủa giữa Ca 2+và CO 32-thành CaCO 3, cặn này được lắng ngay cùng với các chất rắn lửng khác.

Thử nghiệm dùng NaOH để điều chỉnh pH kết hợp chất keo tụ

Khi dùng NaOH để điều chỉnh pH của nước thải mỏ Na Dương, cũng đã giải quyết được hầu hết các chỉ tiêu ô nhiễm đồng thời không xuất hiện kết tủa CaSO 4chậm.

Về khâu ô xi hóa Fe, Mn: Thông thường với đặc thù có hàm lượng Fe, Mn cao cần phải áp dụng các giải pháp để xử lý riêng biệt như sục khí hay sử dụng các chất ô xi hóa như KmnO 4, Ôzôn,…

Tuy nhiên, đối với đặc tính của nước thải mỏ than Na Dương trong quá trình thử nghiệm với các loại hóa chất trung hòa như: sữa vôi, sữa vôi kết hợp với Na 2CO 3, NaOH sau đó dùng keo tụ để lắng cặn thì các mẫu nước thải đầu ra đều có giá trị Mn đạt tiêu chuẩn cho phép (trong điều kiện môi trường ph 7-8). Do đó, khâu xử lý Fe, Mn không cần có giải pháp riêng mà được phối hợp với giải pháp trung hòa và kết tủa.

Về khâu lắng cặn: Sử dụng chất keo tụ dạng polime và hệ thống bể lắng có gạt bùn bằng cơ khí để lắng và thu bùn cặn.

Khâu xử lý bùn: Do hàm lượng than trong nước thải thấp, hàm lượng Fe, Mn nhiều, vì vậy khả năng tái sử dụng bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải mỏ than Na Dương thấp. Giải pháp hợp lý để xử lý bùn thải là sử dụng bề nén bùn để tách bớt nước của bùn sau đó vận chuyển, chôn lấp vào trung tâm của bãi thải đất đá mỏ để giảm khả năng phát tán ra môi trường.

Từ các thử nghiệm trên có thể thấy, việc áp dụng giải pháp trung hòa và kết hợp keo tụ có thể xử lý được nước thải mỏ than Na Dương mà không cần phải khâu xử lý Mn riêng biệt (giá trị pH trung hòa an toàn là 7,8). Tùy theo điều kiện về đầu tư, khả năng đáp ứng được chi phí vận hành mà có thể lựa chọn các giải pháp trên.

Qua nghiên cứu, phân tích chi tiết về chi phí đầu tư và vận hành theo điều kiện của Tập đoàn và Công ry than Na Dương. Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin đã đề xuất quy trình công nghệ xử lý nước thải mỏ than Na Dương như sơ đồ hình 1. Sơ đồ công nghệ đề xuất dựa trên phương pháp thử nghiệm trung hòa bằng sữa vôi kết hợp với chất keo tụ để lắng và giải quyết vấn đề kết tủa CaSO 4bằng hồ lắng tự nhiên.

3. Một số trao đổi, thảo luận

- Về vấn đề tái sử dụng nước sau xử lý: Tái sử dụng nước từ hệ thống xử lý nước thải là vấn đề cần phải xem xét trong các hệ thống xử lý nước thải mỏ. Tuy nhiên, tùy trường hợp cụ thể, cần có những phân tích thực trạng, nhu cầu, yêu cầu cấp nước của khu vực và khả năng đáp ứng về khối lượng, chất lượng của hệ thống xử lý nước thải để có quyết định đầu tư hợp lý. Thực trạng cho thấy, nguồn nước phục vụ nhu cầu dân sinh và nhà máy nhiệt điện hiện tại được lấy từ hồ Nà Cáy tương đối ổn định. Nên chăng đầu tư nâng cấp khả năng xử lý cho trạm xử lý nước sinh hoạt từ nước mặt thay vì đầu tư trạm xử lý nước sau hệ thống xử lý nước thải mỏ than Na Dương thành nước cấp. Lý do thứ nhất, do công nghệ lựa chọn xử lý nước thải mỏ than Na Dương được chọn theo hướng sử dụng sữa vôi nên nước sau xử lý sẽ có độ cứng cao. Vì vậy, để đảm bảo tiêu chuẩn nước cấp công nghiệp, sinh hoạt cần phải tiến hành khâu quan trọng là khử độ cứng của nước (đặc biệt là khi đặt mục tiêu cấp cho nhà máy nhiệt điện) và sẽ tốn kém hơn nhiều so với xử lý nước lấy từ hồ tự nhiên trong khu vực. Lý do thứ hai, nhu cầu cấp nước cho nhà máy nhiệt điện là nhu cầu thường xuyên, liên tục, ổn định, trong khi vấn đề xử lý nước, thoát nước mỏ không phải lúc nào cũng thường xuyên, liên tục.

- Về giải pháp công nghệ xử lý: Qua khảo sát thực tế và tiến hành thử nghiệm xử lý nước thải mỏ than Na Dương trong phòng thí nghiệm, Tập đoàn Kubota (Nhật Bản) đã đề xuất hướng công nghệ xử lý như sơ đồ hình 2. Giá trị pH trung hòa tối ưu được đề xuất là từ 8-9.

Như vậy, qua sơ đồ 1 và sơ đồ 2, hướng công nghệ đề xuất cho xử lý nước thải mỏ than Na Dương của Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin và Kubota tương đối giống nhau. Tuy nhiên, với sơ đồ công nghệ hình 2, khi triển khai dây chuyền sẽ đầu tư hệ thống kiểm soát cấp hóa chất phản ứng, kiểm soát chất lượng phản ứng, kiểm soát chất lượng nước xử lý tốt hơn so với sơ đồ hình 1 và theo đó, chi phí đầu tư của hệ thống theo sơ đồ hình 2 sẽ cao hơn nhiều so với sơ đồ hình 1./.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.