Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 31/07/2007 23:49 (GMT+7)

Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và thử nghiệm nuôi cấy ngọc trai loài Pinctada maxima Jameson, 1901

Ở Việt Nam, trai môi vàng phân bố nhiều nơi, nhất là ven các đảo từ Quảng Nam - Ðà Nẵng đến Phú Quốc, nơi có độ sâu từ 15-30m. Trong đó, các vùng biển thuộc huyện Hàm Tân (Bình Thuận), phía Tây và Nam đảo Phú Quốc (Kiên Giang) là những nơi có nguồn trai mẹ lớn nhất.


Hiện nay, ngư dân thường khai thác vỏ trai để cung cấp cho các cơ sở sản xuất hàng mỹ nghệ, dẫn đến nguồn trai có kích thước lớn, có khả năng sinh sản ngày càng cạn kiệt. Vì vậy, việc bảo vệ nguồn lợi là vấn đề hết sức cấp bách. Một trong những biện pháp thiết thực là sản xuất giống nhân tạo nhằm góp phần tái tạo nguồn lợi, đồng thời có nguồn trai kích thước lớn phục vụ nuôi cấy ngọc trai.


Từ năm 1996, Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản III (nay là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III) đã thực hiện đề tài Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và thử nghiệm nuôi cấy ngọc trai loài P.maxima, với các nội dung chủ yếu:


- Ðiều tra nguồn lợi và môi trường ương nuôi, các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và khả năng ương nuôi.


- Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, nhất là đặc điểm sinh sản để làm cơ sở đề ra các biện pháp bảo vệ nguồn lợi.


- Nghiên cứu các kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi trai ngọc trên biển. Xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo loài trai P.maxima


- Nghiên cứu thí nghiệm cấy nhân tạo ngọc.

Phương pháp nghiên cứu


1. Ðối tượng và địa điểm nghiên cứu

Ðối tượng nghiên cứu:Trai môi vàng Pinctada maximaJameson, 1901.


Ðịa điểm nghiên cứu:


- Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo tại Trại thực nghiệm thuộc Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản III và Trại thực nghiệm Công ty ngọc trai Phú Quốc.


- Nghiên cứu ương nuôi trai giống trên biển tại vùng biển Vũng Rô, Vạn Ninh (Khánh Hoà) và vùng biển Bãi Ðầm, Hòn Rõi, Mũi Tàu Rủ (Phú Quốc, Kiên Giang)


2. Phương pháp nghiên cứu


- Ðiều tra nguồn lợi trai môi vàng dựa trên số thuyền và mùa vụ lặn bắt của các ngư dân.


- Hằng tháng, tiến hành thu mẫu để xác định các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá và thuỷ sinh tại khu vực nuôi trai cấy ngọc.


- Gây nuôi tảo làm thức ăn cho ấu trùng: gây nuôi sinh khối 100 lít, 150 lít và 1 m3 (tảo giống lấy ở Phòng Lưu trữ giống).


- Vận chuyển trai mẹ: Cho trai mẹ vào túi nilông, bơm ôxy, sau đó đặt túi nilông vào thùng xốp để vận chuyển bằng ô tô hoặc máy bay. Lưu ý: Khoang chứa hàng phải có mút giữ ẩm và điều hoà nhiệt độ để đảm bảo độ ẩm và nhiệt độ từ 20-25 0C.


- Vận chuyển trai giống: Gạt nhẹ toàn bộ trai giống bám trên vật bám vào thùng xốp.


- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh sản: Hằng tháng, thu mẫu, quan sát sự phát triển của tuyến sinh dục theo Chipperfied.


- Nghiên cứu sức sinh sản của trai môi vàng:


+ Sức sinh sản tuyệt đối là số lượng noãn bào phát triển ở giai đoạn trước khi đẻ


+ Sức sinh sản tương đối là tỷ số giữa sức sinh sản tuyệt đối của một cá thể với trọng lượng toàn thân, trọng lượng thân mềm và trọng lượng buồng trứng


+ Sức sinh sản thực tế là số lượng trứng thu được trên một cá thể mẹ trong một lần đẻ


+ Sức sinh sản hiệu quả là số lượng ấu trùng chữ D khoẻ mạnh, đủ tiêu chuẩn đưa vào bể ương


+ Quan sát tập tính sinh sản của trai trong hệ thống phòng thí nghiệm


+ Mô tả hình thái cấu tạo, thời gian biến thái phát triển phôi và các giai đoạn ấu trùng, chụp hình, đo kích thước qua kính hiển vi với độ phóng đại 20-40 lần


+ Cứ hai ngày một lần, đo kích thước 30 ấu trùng để xác định tốc độ tăng trưởng của ấu trùng. Tỷ lệ tăng trưởng bình quân ngày được xác định theo công thức của Ball và Jones (1960)


- Thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo:


+ Chuẩn bị hệ thống bể thí nghiệm


+ Tuyển chọn trai bố mẹ


+ Dùng 3 phương pháp kích thích trai đẻ trứng và phóng tinh: Thụ tinh nhân tạo, kích thích bằng cách nâng pH, kích thích bằng phương pháp phơi khô và tạo dòng chảy


+ Các biện pháp ương nuôi ấu trùng


- Ương nuôi trai giống nhân tạo trên biển:


+ Nguồn giống


+ Bố trí lồng nuôi và mật độ ương nuôi


+ Quản lý chăm sóc


- Cấy nhân tạo ngọc:


+ Chuẩn bị trai nguyên liệu có kích thước 15-20 cm


+ Dùng nhân có hình bán nguyệt dán vào vỏ


+ Thu hoạch


- Thu thập và xử lý số liệu: Theo các phương pháp thống kê sinh học

3. Kết luận và kiến nghị


- Ở biển Việt Nam, trai môi vàng P.maxima phân bố khá rộng. Theo điều tra của tác giả và nhóm cộng sự thì trai môi vàng có mặt ở hầu hết các vùng biển từ Quảng Nam, Ðà Nẵng đến Phú Quốc, Kiên Giang, thậm chí có khả năng xuất hiện tại ven bờ các hải đảo trong cả nước, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng biển Hàm Tân (Bình Thuận) và đảo Phú Quốc (Kiên Giang).


Trai P.maxima sống ở độ sâu từ 20m trở lên; nơi có dòng nước lưu chuyển và có đáy là các rạn san hô, sỏi, cát; độ trong cao; độ mặn ổn định trong khoảng 32-350/00.


- Vận chuyển trai:


+Vận chuyển trai giống (2-3mm) ra ương nuôi ở biển bằng phương pháp vận chuyển khô có điều hoà nhiệt độ từ 20-250C, tỷ lệ sống đạt gần 100%


+ Vận chuyển trai trưởng thành bằng phương pháp vận chuyển khô với đoạn đường ngắn, khống chế nhiệt độ từ 20-250C. Ðối với đoạn đường xa, có thể vận chuyển bằng các túi nilông kín đã được bơm ôxy, phương tiện vận chuyển là ôtô hoặc máy bay


- Tảo Nannochloropsis occuculata có chu kỳ sinh trưởng dài, pha cân bằng lâu (18-20 ngày), pha tàn lụi chậm, sinh khối cực đại đạt ở mức rất cao (54,6x106 tế bào tảo/ml) nên được sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng trai ở các giai đoạn đầu của ấu trùng (Veliger đến tiền Umbo).


- Trai P.maxima có con đực, con cái riêng biệt (dạng đơn tính), có thể sinh sản quanh năm, tập trung vào tháng 5-6 và tháng 9-11. Trong đàn trai trưởng thành, tỷ lệ con cái rất thấp (10-20%).


- Sức sinh sản của trai môi vàng khá lớn, sức sinh sản tuyệt đối trung bình 65 triệu trứng, sức sinh sản tương đối trung bình 1 triệu trứng, số trứng trong một lần đẻ trung bình 12x106 trứng/một trai mẹ.


- ấu trùng trải qua các thời kỳ biến thái với những kích thước tương ứng như sau: Kích thước trung bình của ấu trùng Trochophora là 70x73 micron; ấu trùng Veliger 90x92 micron; ấu trùng Umbo có 3 giai đoạn biến thái là tiền Umbo 109x130 micron, trung Umbo 130x135 micron và hậu Umbo 180x189 micron. Ðây là giai đoạn chuyển từ sống trôi nổi sang giai đoạn ấu trùng bò, rồi đến giai đoạn sống bám (spat) với kích thước là 683x525 micron.


- Kết quả sản xuất giống nhân tạo bằng 3 phương pháp kích thích khô, tạo dòng chảy; phương pháp kích thích nâng pH bằng hoá chất và phương pháp trộn trứng với tinh trùng cho thấy: Nếu trai bố mẹ đã thành thục thì cho đẻ bằng phương pháp kích thích khô, tạo dòng chảy là hiệu quả nhất, ấu trùng dễ chăm sóc và có tỷ lệ sống cao.


- Mật độ ương nuôi trong bể từ 1-3 con ở giai đoạn ấu trùng chữ D và 0,1-0,5 con/ml ở các giai đoạn sau là thích hợp. Mật độ tảo cho ăn là 3.000-4.000 tế bào tảo/ml và tăng dần theo sự tăng trưởng của trai con.


- Kết quả ương nuôi giống nhân tạo từ 2-3mm: Sau 20 tháng ương nuôi tại Vũng Rô và Vạn Ninh, trai trưởng thành đạt tiêu chuẩn 16-18 cm, nhưng tỷ lệ sống chỉ đạt 1-2%. ở vùng biển Phú Quốc, thời gian ương chỉ khoảng 4 tháng (từ tháng 9 đến tháng 12/1999), đường kính của trai là 3,96 cm; tỷ lệ sống khá cao (10-15%).


Tóm lại, có thể ương nuôi được con giống nhân tạo trên biển để tạo nguồn trai trưởng thành phục vụ cấy nhân lấy ngọc.


- Tại Vạn Ninh và Vũng Rô nên ương nuôi ở độ sâu 2-3m là phù hợp, còn ở Phú Quốc để tránh sóng gió nên ương ở độ sâu 5m; Tuỳ vào tình trạng sóng, gió và sự đối lưu của dòng chảy, có thể di chuyển đến nơi khác hoặc thả nuôi sâu hơn hay cạn hơn.


- Việc dán nhân plastic lên mặt trong vỏ trai P.maximalà hoàn toàn có thể thực hiện được. Sau 12-18 tháng, mỗi cá thể trai cho 6-10 viên ngọc bán cầu đạt tiêu chuẩn thành phẩm.


- Cần tiếp tục hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi con giống, nhằm đảm bảo số lượng trai có kích thước lớn có thể phục vụ cho việc sản xuất trai cấy ngọc.


Nguồn: Tạp chí Thuỷ sản

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.