Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 04/11/2013 20:40 (GMT+7)

Nghiên cứu khoa học theo đơn đặt hàng của địa phương

Các nhiệm vụ này xuất hiện tại các thời điểm mà kế hoạch KH và CN hằng năm đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Nhiệm vụ cấp thiết được thực hiện chủ yếu là đặt hàng của các địa phương. Ðây là một ưu điểm nổi trội của loại hình nhiệm vụ này, thực hiện tinh thần đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý và hoạt động KH và CN là "tăng cường cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ KH và CN cấp nhà nước"; kết quả của nhiệm vụ phải đáp ứng yêu cầu của địa phương và được bàn giao cho địa phương đưa vào ứng dụng trong thực tiễn.

Trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2012, các địa phương đã kiến nghị, đề xuất khoảng gần 100 nhiệm vụ cấp thiết, Bộ KH và CN đã xem xét lựa chọn, đưa vào thực hiện được 44 nhiệm vụ cấp thiết trong cả nước.
Sau năm năm thực hiện nhiệm vụ cấp thiết, các nhà khoa học ở trung ương đã nghiên cứu tạo ra được các kết quả cụ thể, tạo ra được 43 quy trình công nghệ, trong đó có những quy trình có hàm lượng khoa học cao như: Quy trình công nghệ nhân giống vô tính cây sâm Ngọc Linh; quy trình công nghệ sản xuất rễ sâm Ngọc Linh bằng hệ thống bioreactor; quy trình gây động dục đồng loạt cho bò bằng các hoóc-môn; quy trình phòng trừ bệnh ruồi đục quả thanh long...; thiết kế được 11 phần mềm máy tính. Xây dựng được 57 đề án, quy hoạch, luận chứng kinh tế kỹ thuật, báo cáo nghiên cứu khả thi; thiết kế được 133 bộ bản đồ các loại như: Bộ Bản đồ Nông hóa thổ nhưỡng đất sản xuất nông nghiệp của 123 xã và năm huyện của tỉnh Lạng Sơn để phục vụ công tác quản lý sử dụng đất hợp lý ở tỉnh Lạng Sơn; bản đồ phân vùng dông sét cho tỉnh Quảng Nam để phục vụ công tác quy hoạch sản xuất nông nghiệp của tỉnh; bộ bản đồ về tình trạng hạn hán và thiếu nước của tỉnh Ðác Nông; bộ bản đồ phân vùng cháy rừng tỉnh Phú Yên; tổ chức được 106 lớp tập huấn cho 4.239 lượt người thông qua việc xây dựng các mô hình trình diễn. Thí dụ như: mô hình nuôi thâm canh phối hợp các giống thủy sản bảo đảm bền vững về mặt môi trường và tăng giá trị kinh tế tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Ðịnh; mô hình phòng trừ ruồi đục quả cho cây thanh long tại Bình Thuận để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, mô hình xử lý đất, nước ô nhiễm ở vùng đất ô nhiễm gần sông Nhuệ tại tỉnh Hà Nam để trồng lúa và nuôi cá...
Ngoài ra, kết quả việc thực hiện 44 nhiệm vụ cấp thiết còn tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế và xã hội lớn như: Nghiên cứu đề xuất được phương pháp phòng, chữa cháy rừng cho vườn quốc gia U Minh, tại tỉnh Kiên Giang; giải pháp tích hợp đa dữ liệu cho hệ thống thông tin cảnh báo, bảo vệ an toàn khu di tích đền Hùng; bảo tồn và phát triển nguồn gien của giống bò Mông ở Bắc Cạn, giống lúa Séng Cù của Lào Cai; đề xuất được các mô hình canh tác hợp lý trong điều kiện xâm nhập mặn trong các vùng nước lợ, ngọt và mô hình trồng các loại cây thích hợp cho vùng nhiễm mặn của Bến Tre; nghiên cứu, chế tạo được các loại thiết bị cảnh báo và phòng, chống sét cho Quảng Nam; ứng dụng công nghệ tiên tiến để xây dựng các giải pháp cấp nước phục vụ vùng di dân tái định cư cho hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ (Lai Châu); ba nhóm giải pháp có tính khả thi cao để phòng ngừa cá dữ tấn công người ven bờ biển Quy Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh...

Việc thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết mới phát sinh tại địa phương đã huy động đồng bộ các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) từ các tổ chức KH và CN, chính quyền các cấp và cả người dân cùng tham gia, tạo điều kiện thuận lợi để địa phương (thông qua Sở KH và CN và các ngành liên quan) cùng tham gia giám sát, đề xuất điều chỉnh các nội dung cho phù hợp thực tiễn.

Kết quả của nhiệm vụ cấp thiết đã thật sự đáp ứng các yêu cầu của địa phương, có khả năng ứng dụng cao. Ðó là những kết quả cụ thể, có tính thực tiễn, thậm chí nhiều kết quả đã được đưa vào áp dụng ngay từ khi đang trong quá trình nghiên cứu; tất cả kết quả sau khi nghiên cứu đã được bàn giao cho địa phương để ứng dụng.
Trong quá trình thực hiện, các đơn vị chủ trì đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành, địa phương có liên quan; huy động được sự tham gia của các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực chuyên môn; có sự vào cuộc tích cực của các tổ chức khoa học ở cả trung ương và địa phương.

Ngoài những kết quả về khoa học, các đơn vị chủ trì nhiệm vụ cấp thiết còn đào tạo, tập huấn các quy trình kỹ thuật, công nghệ cho hàng nghìn cán bộ kỹ thuật, người dân ở địa phương để có kiến thức áp dụng vào sản xuất; đào tạo được hàng chục thạc sĩ và tiến sĩ cho một số cán bộ khoa học.

Việc thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết đã hình thành một mô hình quản lý mới về nhiệm vụ KH và CN triển khai trên địa bàn địa phương. Ðó là, Bộ KH và CN phối hợp chặt chẽ với Sở KH và CN của các tỉnh, thành phố, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm rõ ràng để quản lý và giám sát quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ; Bộ KH và CN là nơi tổ chức, đánh giá, nghiệm thu cấp nhà nước đối với nhiệm vụ. Quá trình này tạo nên sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức KH và CN trung ương về triển khai nhiệm vụ trên địa bàn địa phương.

Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết mới phát sinh ở địa phương thời gian qua đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực cho các địa phương; đã đáp ứng được một phần các nhu cầu cấp thiết, vượt khả năng giải quyết của lực lượng KH và CN địa phương; những nhiệm vụ phát sinh khi kế hoạch KH và CN đã được bố trí và đang được triển khai thực hiện; đây cũng là một kênh hỗ trợ trực tiếp, nhanh chóng và hiệu quả cho một số địa phương có nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học hạn hẹp, nguồn nhân lực KH và CN còn thiếu, không đủ khả năng giải quyết các vấn đề KH và CN lớn; nâng cao hiệu quả làm việc nhóm giữa các nhà khoa học ở trung ương và địa phương và giữa các viện nghiên cứu với nhau.

ThS Lê Kim Phương (Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương, Bộ KH&CN)

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.