Nghề quản trị
Những người biết lo thời ấy đồng thời cũng là những người làm, chưa ai sống chỉ bằng cái nghề biết lo (trừ tầng lớp quan lại, là những người lẽ ra chỉ sống bằng cái tài biết lo của mình). Sự phân công lao động đơn sơ ấy cũng đã là một bước tiến vì một xã hội có nhà nước (quan lại là người phải biết lo) và tuyệt đại bộ phận nhân dân làm việc với một số người vừa biết lo và vừa làm việc (chân tay) trong các tổ chức nhỏ như gia đình, làng xóm, đã là một sự tiến bộ lớn so với xã hội không có nhà nước. Tuy nhiên, cái gì cũng có nhiều mặt, sự phân công quan - dân cũng có những mặt tiêu cực, và đáng tiếc mãi cho đến nay, chúng ta vẫn chưa hiểu đúng sự phân công lao động xã hội, thường chỉ thấy các mặt tiêu cực nên đã có các chủ trương hết sức phản khoa học như chạy theo mục tiêu xóa bỏ nhà nước, hay chỉ coi lao động (chân tay) là chân chính.
Hoàn cảnh xã hội ấy, sự thiếu hiểu biết ấy đã khiến chúng ta không mấy chú ý đến nghề quản trị. Những người làm nghề quản trị chân chính là những người lao động cật lực, lao tâm khổ tứ, nhưng lại rất dễ bị coi là kẻ “ăn bám”, “ngồi mát ăn bát vàng”, kẻ “bóc lột”, v.v... và người ta đã bao lần săn đuổi họ, thậm chí dư luận cũng chẳng hiểu rõ vai trò của họ. Thật không may cho đất nước chúng ta là đã có những người lãnh đạo ít hiểu biết, làm nghề quản trị mà không hiểu tầm quan trọng của nó, không biết làm cho người dân hiểu rõ vai trò của nghề này mà lại kích nhân dân khinh miệt nghề ấy; quả thực họ là các nhà quản trị tồi.
Nhà quản trị thường được hiểu như người lãnh đạo, quản lý, điều hành nếu họ làm những việc ấy như một kế sinh nhai trong một tổ chức nào đó (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi lợi nhuận). Như vậy, nhà quản trị phải biết lo, nhưng người biết lo chưa hẳn đã là nhà quản trị chuyên nghiệp (như chủ gia đình chẳng hạn). Chúng ta giới hạn thảo luận về các nhà quản trị chuyên nghiệp (tức là họ sống bằng nghề quản trị). Các nhà quản trị chuyên nghiệp tạo thành một tầng lớp người lao động tri thức có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển xã hội. Họ là người tạo ra của cải lớn nhất, hữu hiệu nhất cho xã hội. Nhận thức rõ vai trò của họ, tôn trọng họ, có chính sách khuyến khích, đào tạo, nuôi dưỡng, phát triển tầng lớp này và tạo những điều kiện thuận lợi nhất (về mặt pháp lý, tâm lý xã hội) để họ hành nghề phải là trọng tâm của chiến lược phát triển đất nước. Tiếp theo, chúng ta chỉ bàn về nghề quản trị doanh nghiệp (quản trị nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức khác cũng có các điểm chung cốt lõi như quản trị doanh nghiệp và có những khác biệt khác).
Nghề quản trị doanh nghiệp thực sự nở rộ trong khoảng 100 năm qua và nhà lý luận lỗi lạc nhất về nghề này là học giả gốc Áo ông Peter F. Drucker (1909-2005). Cái tài biết lo ở đây là thế nào?
Các nhà quản trị biết lo về mục tiêu, sứ mệnh, các giá trị của tổ chức của mình. Họ phải xác định rõ sứ mệnh. Sứ mệnh phải hướng tổ chức tập trung vào hành động. Nó xác định các chiến lược cụ thể cần thiết để đạt các mục tiêu cốt yếu. Nó tạo ra một tổ chức có kỷ luật. Riêng nó có thể ngăn chặn căn bệnh thoái hóa phổ biến nhất của các tổ chức, đặc biệt ở các tổ chức lớn: vung các nguồn lực luôn hạn hẹp của mình vào những thứ “thú vị” hay có vẻ “có lời” hơn là tập trung chúng vào một số rất nhỏ các nỗ lực sinh lợi. Sứ mệnh của một tổ chức nên tránh những tuyên bố to tát, hoành tráng, đầy những ý định tốt mà phải tập trung vào các mục tiêu có quan hệ mật thiết thật rõ ràng đối với công việc mà tổ chức sẽ thực hiện.
Các nhà quản trị phải biết rõ các giả thiết của mình về thị trường, về việc nhận dạng các khách hàng và các đối thủ cạnh tranh, các giá trị và cách ứng xử của họ, về công nghệ và động học của nó, về những điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức. Các giả thiết ấy là cái Peter Drucker gọi là lý thuyết kinh doanhcủa một công ty. Các giả thiết này quy định ứng xử của tổ chức, xác định các quyết định của nó về phải làm cái gì và không làm cái gì, và xác định cái gì được tổ chức coi là kết quả có ý nghĩa. Các giả thiết có thể đúng hay sai, và kết quả kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào các giả thuyết ấy và phải thường xuyên rà soát lại chúng, nhất là khi có biến động hay khủng hoảng. Người biết lo là người có dũng khí vứt bỏ một lý thuyết đã lỗi thời và tạo ra lý thuyết mới.
Công việc của nhà quản trị là hướng các nguồn lực và nỗ lực của doanh nghiệp đến các cơ hộiđể đạt những kết quả đáng kể. Nghe có vẻ đơn giản nhưng trong thực tế, người ta thường không hướng tới các cơ hội mà lại hướng vào các vấn đề, và nhiều khi vào các vấn đề dẫu có thành công cũng không đóng góp mấy cho kết quả kinh tế đáng kể. Người biết lo là người hiểu được sự khác biệt giữa các việc đúng (các việc mang lại kết quả đáng kể) và làm việc một cách hiệu quả. Thật vô ích đi làm một cách hiệu quả những công việc không nên làm. Làm hiệu quả một việc không đúng là vô nghĩa. Tìm ra các việc đúng là hết sức quan trọng. Thế có nghĩa là nắm được các cơ hội, rồi khiến nhân viên của mình (người biết làm) thực hiện chúng một cách hiệu quả để có kết quả đáng kể.
Nhận ra các cơ hội để hướng các nguồn lực vào nhằm đạt kết quả đáng kể không phải là chuyện dễ làm. Và không có các chỉ dẫn vạn năng để làm việc đó. Và thật may là không có các cẩm nang, thủ tục, thuật toán hay những cái tương tự để làm việc đó, vì nếu giả như có thể thì cái cốt lõi của nghề quản trị có thể được tự động hóa, chẳng còn chi hứng thú, và còn quan trọng hơn, sẽ chẳng còn có sự sáng tạo và đổi mới! Tuy nhiên, dựa vào vào sứ mệnh, chiến lược, và các giá trị đã được xác định của tổ chức, sử dụng hữu hiệu thông tin về môi trường (thị trường, khách hàng, xã hội, v.v.) có thể nhận ra các cơ hội dựa trên các nguyên lý khoa học (tất nhiên trực giác và sự am hiểu, nhạy bén của nhà quản trị có vai trò lớn).
Nguyên lý 20-80 của Pareto * nói rằng, trong 100 việc (người, bộ phận, sản phẩm, khách hàng, v.v.) có khoảng 20 việc mang lại 80% kết quả và 80 việc chỉ mang lại 20%. Người biết lo là người nhận ra 20 việc (sản phẩm, người, bộ phận, khách hàng) ấy. Đấy là nhận ra cái đúng, là nắm lấy cơ hội. Cái khó là cái phần 20% mang lại 80% kết quả ấy lại luôn thay đổi do thay đổi môi trường, công nghệ, v.v. Vì thế, định kỳ (thí dụ vài năm hay khi có biến động đột xuất) phải rà soát lại những cái thuộc 20% ấy, rà soát lại mỗi sản phẩm, mỗi hoạt động kinh doanh, mỗi hành động theo cách coi chúng như các sản phẩm, hoạt động, hành động mới. Lắng nghe ý kiến của mọi người, của các chuyên gia, các bộ phận trong những đợt rà soát như vậy và nếu thấy không còn nên đáng làm nữa thì phải có dũng khí ra quyết định dứt khoát, quyết đoán nhằm thoát khỏi nó một cách khôn khéo bất chấp các ý kiến biện hộ. Muốn thế, phải có một kế hoạch hành động, có phương pháp phân tích, và có hiểu biết về các công cụ cần dùng. Các phương pháp và công cụ thường thay đổi và phải liên tục học để nắm vững chúng.
Peter Drucker nêu ra 8 tập quán nếu rèn luyện tốt thì một nhà quản trị có thể trở thành nhà quản trị hiệu quả:
-Hỏi “cần phải làm cái gì?”
-Cái gì là đúng, là phù hợp với tổ chức mình?
-Đề ra các kế hoạch hành động
-Chịu trách nhiệm về các quyết định
-Chịu trách nhiệm truyền đạt, truyền thông
-Tập trung vào cơ hội hơn là vào các vấn đề
-Điều hành các cuộc họp có hiệu quả
-Suy nghĩ và nói “chúng ta” hơn là nói “tôi…”.
Và cái thứ 9, ông nâng lên mức thành quy tắc: Trước tiên hãy lắng nghe, và hãy nói sau cùng.
Nghề quản trị là một nghề cao quý, vất vả và được trả công xứng đáng. Nghề quản trị có thể học được thông qua đào tạo, rèn luyện và hoạt động thực tiễn. Năng lực bẩm sinh cũng có vai trò, nhưng nếu không chăm chỉ học suốt đời thì cũng khó trở thành nhà quản trị hiệu quả. Xã hội càng hiểu rõ vai trò của họ, nhà nước càng có chính sách khuyến khích họ phát triển, và bản thân họ càng hiểu rõ trách nhiệm của mình với doanh nghiệp, với cộng đồng và xã hội thì sự phát triển của đất nước càng nhanh, càng bền vững.








