Nghề đươn đệm ở Đồng Tháp Mười
... Thế nhưng, nếu đã là dân ĐTM thì ai cũng biết: bàng ở đây là loài cây thân cỏ cùng họ với năn lát, dùng để đươn (đan) đệm. Và đương nhiên chuyện giã bàng (đâm bàng) là chuyện ăn cơm bữa đối với họ.
Cây bàng với nghề đươn đệm ở ĐTM
Có thể nói, cây bàng là một trong những loài cây chủ đạo ở ĐTM thuở còn hoang vu. Chính vì thế mà trong các tài liệu cũ của người Pháp, ĐTM được gọi là Plaine des Joncs, tức Đồng cỏ lát mà Nguyễn Đình Đầu (trong Địa chí ĐTM - Trần Bạch Đằng cb, 1996, tr.113 cho rằng để dịch cho đúng thực với địa lý đương thời thì nên dịch là Đồng cỏ bàng). Bởi vì chính Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí cũng ghi nhận rằng thuở hoang sơ, từ ngọn Rạch Chanh (thuộc thị xã Tân An (Long An) hiện nay) đến gò Tháp Mười có rất nhiều loại cây “không tâm bồ, tục danh cỏ bàng mọc lan tràn”.
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) thì cây bàng có tên khoa học là Lepironia articulata và được miêu tả như sau: “Căn hành (thân dưới) cứng nằm trong bùn, to 8-10mm; thân đứng cao khoảng 1m, có ngấn ngang, đáy có 3-4 bẹ, bao cao 15-20cm. Gié hoa ở chót thân, cao1,5-2cm, rộng đến 1cm. Bế quả (trái) cao 3-4mm. Vòi nhụy chẻ hai. Thông thường mọc ở vùng trũng phèn như ở Đồng Tháp, Hà Tiên. Ra bông quanh năm”.
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là cây bàng đã gắn chặt với một cái nghề truyền thống lâu đời ở ĐTM: nghề đươn đệm (1).
Vậy nghề đươn đệm ở ĐTM có từ bao giờ? Nó bao gồm các công đoạn nào? Và quan trọng hơn cả là vai trò của nó ra sao trong đời sống người dân ĐTM?
Như trên đã nói, nếu như bàng là nguồn nguyên liệu phổ biến của ĐTM thì nghề đươn đệm cũng phổ biến và gần gũi với người dân trong vùng. Thế nhưng nghề đươn đệm có từ bao giờ thì không hề ai biết, cũng không hề có tổ nghề như những nghề khác. “Cùng nghề đươn thúng, túng nghề đươn mê”(2) (Tục ngữ). Đươn đệm quả là cái nghề bạc bẽo của những con người bần cùng. Mà dân nghèo thì đầu óc rất thực tế, rất ít khi chú ý đến lý thuyết, đến lịch sử xa xôi. Sống ở vùng “nê địa” khắc nghiệt, họ chỉ còn biết đối phó với bao trở ngại trước mắt, không còn thì giờ để nghĩ đến những chuyện sâu xa khác.
Thế nhưng, dựa vào một số tư liệu cũ ta cũng có thể nhận ra cái lịch sử lâu đời của nghề đươn đệm.
Vương Hồng Sển (1993) có ghi: “Đất phèn… không trồng lúa được, để cho cây bàng cây đưng mọc…, bàng loại như lát nhưng thô xấu hơn, củ ăn thế cơm được, lá dùng đươn đệm, đươn bao gọi là đệm bàng, bao bàng, giúp cho đàn bà con trẻ vào mùa nghỉ việc ruộng bắt qua đươn đát đắp đổi hột cơm” (tr 208).
Và người dân ĐTM đến giờ vẫn còn truyền miệng câu ca dao:
Bàu Gõ trên cỏ dưới bưng
Nhổ bàng đươn đệm em đừng đi đâu.
Căn cứ vào các cứ liệu nói trên, có thể ức đoán rằng nghề đươn đệm có từ rất sớm, ít nhất cũng là từ khi lưu dân người Việt vừa đặt chân đến ĐTM (khoảng cuối thế kỉ XVII), khi mà ĐTM còn hoang vu, mờ mịt.
Một số người dựa vào các từ như “cà ròn”, “nóp” (vốn là từ gốc Khơme dùng để chỉ các sản phẩm của nghề đươn đệm) để khẳng định rằng người Việt đã kế thừa nghề này từ người Khơme vốn là cư dân bản địa (3). Nếu quả thật như vậy thì nghề đươn đệm còn có lịch sử xa xôi hơn nhiều.
Nghề đươn đệm phân bố rải rác khắp ĐTM , nhưng tập trung nhất có lẽ là khu vực thuộc huyện Tân Phước (Tiền Giang) và phía tây huyện Thủ Thừa (Long An) ngày nay. Bởi lẽ địa hình vùng này vốn ngập nước quanh năm, rất phù hợp cho cây bàng phát triển (Chỉ đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi kế hoạch khai thác tiềm năng ĐTM được xúc tiến, thì nhờ kinh rạch được khai thông mà vùng này mới bớt ngập úng, cũng từ đó lượng bàng mọc ở đây cũng ít dần). Hiện nay tại ấp Phú Xuân, xã Phú Mỹ (huyện Tân Phước) còn địa danh mang tên Xóm Đệm. Kế đó là xã Hưng Thạnh (cũng thuộc huyện Tân Phước) còn giữ tên cũ Kiến Vàng với câu ca dao quen thuộc:
Lòng thương con gái Kiến Vàng
Đầu đội neo bàng, tay xách mo cơm.
Do đó có thể xem đây là một trong những trung tâm của nghề đươn đệm ở ĐTM.
Nghề đươn đệm ở ĐTM tạo ra rất nhiều loại sản phẩm thiết thân với cuộc sống thường nhật của người dân. Các sản phẩm bao gồm: đệm bàng, bao bàng (cà ròn), bị bàng (giỏ xách), cặp bàng (cặp học sinh), nón bàng, bao nhãn, võng bàng, nóp,... Có thể nói không ngoa rằng, sản phẩm của nghề đươn đệm xuất hiện mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống của người dân ĐTM. Ngay từ lúc mới lọt lòng, đã là dân ĐTM, ai lại chẳng được nằm trên chiếc “manh em” (manh đệm nhỏ) xinh xắn; ai lại chẳng nằm trên chiếc võng bàng ấm áp lời ru của mẹ. Rồi lớn lên, trong lao động sản xuất nông nghiệp, bàng đệm là người bạn đồng hành trung thành và đắc lực của họ trong mọi công việc. Cuối cùng, lúc từ giã cõi đời, manh đệm lại quấn lấy thân thể họ như để âu yếm, chở che.
Có điều, cùng với đà phát triển của công nghệ mới, nghề đươn đệm đã từng bước bị thu hẹp dần (cả về phạm vi lẫn các chủng loại sản phẩm) để nhường chỗ cho các sản phẩm bằng các chất liệu mới như nhựa, sợi,… Vì vậy, ở một số nơi, nghề đươn đệm chỉ còn trong kí ức xa mờ (4) thấp thoáng ẩn hiện qua ca dao:
Ngó lên trên chợ Thủ Thêm (5)
Thấy em đươn đệm giắt ghim trên đầu.
Các công đoạn của nghề đươn đệm
Nghề đươn đệm ở ĐTM gồm khá nhiều công đoạn để biến loài cây hoang dại thành những thứ đồ dùng quen thuộc, gần gũi với cuộc sống. Nhìn chung gồm các công đoạn sau.
Nhổ bàng
Bàng thường mọc ở những vùng trũng phèn ngập nước, khi đạt chiều cao khoảng gần bằng đầu người là có thể sử dụng. Đầu tiên người ta vơ lấy một cụm nhỏ (khoảng vừa nắm tay), nắm thật chặt lấy ngọn bàng rồi giật mạnh một cách thật dứt khoát theo chiều nghiêng khoảng 45 độ so với mặt đất. Thế là bàng sẽ bị bật gốc lên. Chú ý, nếu khi giật mạnh mà nắm không chặt thì bàng sẽ cứa vào tay chảy máu, vết cắt có khi rất sâu và rất đau. Nhổ xong, người ta bó lại thành từng bó, mỗi bó to khoảng bằng cột nhà, gọi là neo bàng (hay néo), hai neo sẽ thành một đôi bàng. Một chục bàng gồm 12 hoặc 14 neo, tùy nơi. Khi đã bó thành neo, người ta tiến hành tề gốc bàng bằng cách dùng liềm cắt.
Bàng thường mọc nơi hoang vu nên mỗi chuyến đi bàng phải kéo dài nhiều ngày, phải chịu bao vất vả gian truân: muỗi mòng, rắn rít, nắng mưa,…
Ngày nay bàng hoang không còn bao nhiêu nên người ta phải vun bón cho nó (6). Và người ta cũng không nhổ bàng nữa mà dùng liềm cắt sát gốc để cho nó đẻ nhánh mọc lên như cũ sau vài tháng. Thế nhưng từ nhổ bàng vẫn còn mãi cho đến ngày nay, đủ thấy dấu ấn sâu đậm của một thời vẫn còn ăn sâu vào tâm trí của thế hệ hôm nay.
Tót bàng
Đây là công đoạn phân loại bàng theo chiều cao. Đầu tiên người ta dựng một cái cọc đứng cao khoảng đầu người (hoặc dựa vào cột nhà hay thân cây) rồi cột nhiều neo bàng lại dựa vào cái cọc thành một bó lớn khoảng bằng một vòng tay ôm. Sau đó, nắm lấy những cọng bàng trên cùng của bó lớn rút nhẹ lên và để nằm xuống đất. Và cứ rút tiếp tục như thế sẽ được một dãy bàng từ cao đến thấp dần. Xong, người ta bó dãy bàng này lại thành từng neo như cũ. Các neo bàng này khác các neo bàng trước kia ở chỗ nó đã được chọn lọc với chiều cao tương đối đồng đều nhau.
Phơi bàng, giã bàng
Bàng mới nhổ về gọi là bàng tươi. Muốn dự trữ lâu thì phải phơi ngay, nếu không chúng sẽ ngả màu đen, xấu không dùng được. Người ta phơi bàng bằng cách trải từng neo ra như hình rẻ quạt, phơi nắng khoảng vài tiếng đồng hồ thì trở bề một lần, khoảng hai nắng là được.
Bàng chưa giã gọi là bàng cây, bàng giã rồi gọi là bàng đâm. Thông thường bàng cây khô được giã lần một rồi lại đem phơi nắng tiếp tục (khoảng một nắng). Muốn cho cọng bàng mềm dễ đươn thì phải giã lại lần hai.
Công cụ để giã bàng gồm mục bàng và chày. Chày có hình dáng như chiếc chày đâm tiêu nhưng to và cao khoảng bằng đầu người. Mục bàng là một tấm gỗ dày khoảng trên 1dm, rộng khoảng 3-4dm, dài khoảng 2m. Cả chày và mục bàng đều làm bằng các loại danh mộc, chắc, bền và nặng (thường là cây sao).
Khi giã bàng, người ta đặt neo bàng lên trên mục bàng rồi đứng lên nó, hai tay nắm chặt chày nện đều xuống. Vì giã bàng là công việc nặng nhọc nên thường được tiến hành vào ban đêm (cho mát mẻ, đỡ nóng bức; hơn nữa, ban ngày họ bận việc đồng áng hoặc đươn đệm). Cứ thế, giữa đêm khuya, tiếng giã bàng với âm thanh cùm cụp nhịp nhàng vang vọng khắp xóm khắp làng.
Ngày nay ít ai giã bàng bằng tay nữa vì đã có máy ép bàng (như ép mía) nhanh gọn mà bàng lại mềm đều. Nhưng các mục bàng và chày vẫn còn tồn tại như chứng nhân của một thời gian khó.
Công đoạn đươn
Sau khi bàng đã được giã (hoặc ép) hai lần thì có thể tiến hành đươn. Tùy theo từng loại sản phẩm mà có cách đươn khác nhau. Nhưng nhìn chung vẫn theo nguyên tắc là sự đan xen giữa các cọng bàng.
Giai đoạn đầu của công đoạn đươn (khi ghép các cọng bàng ban đầu lại với nhau) gọi là gầy (hay gây). Manh đệm khi được gầy xong (còn đang dang dở) gọi là mê. Mê là manh đệm chưa hoàn thành nên cũng biểu tượng cho công việc còn đang dang dở (Thành ngữ đăng đăng mê mê dùng để chỉ công việc bề bộn chưa xong). Thông thường người lớn (có tay nghề, đươn giỏi) gầy rồi bỏ mê cho trẻ con đươn.
Mỗi khi đươn được một quãng chừng vài dm, người đươn bao giờ cũng ngừng lại để nhắt. Nhắt là dùng các đầu ngón tay (phần móng) chèn cho các cọng bàng đan xen khít khao lại với nhau. Gần đây có kiểu đươn manh thưa thì khỏi nhắt mà để cho các cọng bàng cách nhau khoảng 0,5cm.
Mỗi manh đệm đươn xong có chiều dài khoảng 2m, rộng gần 1m, gọi là vun. Để cho bìa vun đệm khỏi sút sổ, người ta phải bẻ bìa, tức là thắt đầu các cọng bàng lại với nhau (gần giống như kiểu thắt tóc bím).
Nếu manh đệm chỉ dừng lại ở 1 vun như vậy để dùng thì gọi là “manh em” (nghĩa là manh nhỏ). Còn nếu muốn thành một tấm đệm hẳn hoi (thông thường là 3 vun) thì người ta phải tiến hành ghim các cọng bàng mới vào một bên bìa của vun đệm trước. Và cứ thế đươn tiếp vun thứ hai rồi lại ghim vun thứ ba. Cuối vun thứ ba, người ta lại phải bẻ bìa cho khỏi sút sổ. Ghim ở đây được làm bằng vỏ tre mảnh có chiều dài khoảng 2dm, rộng khoảng 1cm, một đầu vót nhọn, đầu kia được chẻ đôi theo mặt cắt ngang để có thể kẹp cọng bàng vào khe rồi lèn cho xuyên qua một phần (khoảng 4 cm) của vun đệm trước.
Đối với một số sản phẩm như võng hay giỏ xách, khi đươn xong người ta còn phải đánh dây làm dây võng hoặc quai giỏ. Cách đánh dây này cũng đơn giản như kiểu thắt tóc bím, nhưng được xiết chặt và khá chắc chắn, có thể chịu được lực căng lớn.
Nghề đươn đệm trong đời sống người dân ĐTM
Như trên đã nói, nghề đươn đệm gắn liền với cuộc sống lao động cực khổ của người dân bần cùng. Do đó, dấu ấn của nghề đươn đệm chính là dấu ấn của nỗi gian truân, nhọc nhằn và bạc bẽo:
Trắng da vì bởi mẹ cưng
Đen da vì bởi lội bưng nhổ bàng.
(Ca dao)
Câu hát vừa có nỗi oán than, lại vừa có phần cam chịu của những mảnh đời tối tăm, tội nghiệp.
Đươn đệm là nghề có thu nhập rất thấp nên chủ yếu chỉ giải quyết nhu cầu công ăn việc làm cho người dân những lúc nông nhàn. Mỗi khi việc đồng áng đã tạm yên ổn thì họ bắt đầu rủ nhau đi nhổ bàng về để chuẩn bị đươn đệm. Do đó, có thể nói đươn đệm là cái nghề thứ hai sau nghề làm ruộng của người dân ĐTM:
Bông xanh mà lá cũng xanh
Em đi cấy lúa cho anh nhổ bàng.
(Ca dao)
Câu ca dao trên cho thấy sự gắn bó của hai cái nghề cơ bản của ĐTM như sự gắn bó bền chặt của đôi trai gái yêu nhau.
Chính vì mối tình đơn sơ ấy mà cô gái đươn đệm vốn quê mùa bỗng trở nên có duyên lạ thường:
Lòng thương con gái Kiến Vàng
Đầu đội neo bàng, tay xách mo cơm.
(Ca dao)
Và tiếng giã bàng vốn đơn điệu lại trở nên có sức vang vọng sâu xa và ấm áp như một giai điệu thanh bình, giống như nhịp chày giã gạo ở miền sơn cước.
Rồi biết bao cặp trai gái quê mùa từ chỗ cùng nhau đươn đệm, đã dệt luôn ước vọng lứa đôi. Sự gắn bó bền chặt giữa các cọng bàng trên một manh đệm luôn nhắc nhở họ lòng thủy chung son sắt, dẫu phải cách xa nhau biền biệt vì mưu sinh với bao cám dỗ thường tình.
Tuy nhiên, ấn tượng sâu sắc và độc đáo nhất về các sản phẩm của nghề đươn đệm vẫn là chiếc nóp, một sáng kiến độc đáo của dân nghèo trong cuộc sống bần hàn. Chiếc nóp là một vật dụng hết sức đơn giản: dùng một tấm đệm lớn gấp lại làm đôi rồi khâu rìa của hai cạnh đầu lại, chỉ chừa lại một cạnh để chui vào ngủ tránh muỗi đốt. Trong thời buổi khó khăn, giá mùng đắt đỏ, thì chiếc nóp chính là người bạn thân thiết của dân nghèo: nó dễ làm, khỏi tốn tiền, lại tiện dụng và bền bỉ. Chiếc nóp nhỏ nhắn lại đồng thời đóng nhiều vai trò: là đệm lót để nằm, là chiếc mùng, là chiếc mền, là túp lều. Nghĩa là bất cứ nơi nào trên mặt đất, cứ trải nóp ra, chui vào ngủ là xong, tránh được cả muỗi mòng lẫn rắn rít. Ngủ xong chỉ cần gấp lại gọn gàng và nhẹ như không.
Nhưng chiếc nóp chỉ thích hợp với cuộc sống ở nơi đồng hoang, rừng rú. Bởi lẽ ở trong nhà mà ngủ nóp thì quả là một cực hình: rất nóng bức. Do đó, chiếc nóp chính là biểu tượng của sự bần cùng (“Nghèo cháy nóp”- thành ngữ) và cuộc đời phong sương nơi rừng hoang sông lạnh:
Vai mang chiếc nóp rách
Tayxách cổ quai chèo
Thương con nhớ vợ, bởi phận nghèo anh phải đi.
(Ca dao)
Ngày nay, vì nhiều lý do khác nhau, nghề đươn đệm ở ĐTM đã từng bước thoái trào, nhưng sản phẩm của nó vẫn không thể thiếu vắng trong đời sống của người dân. Có những nơi đời sống kinh tế phát triển nên người dân hầu như không đươn đệm nữa, nhưng kí ức về nó thì vẫn còn sống mãi thường trực trong tâm trí họ, để rồi thỉnh thoảng lại bất chợt quay về trong từng câu hát ru hay chuyện kể như dấu ấn của một thời gian khó.
______________
1. Ngoài việc dùng để đươn đệm, cây bàng còn dùng để lợp nhà (và cả dừng vách). Củ bàng có thể ăn thế cơm những khi đói kém:
Hỏi ai còn nhớ Bảy Ngàn
Củ co ăn với củ bàng thế cơm.
(Ca dao)
2. Mê: chỉ manh đệm.
3. Trong Đại Nam quốc âm tự vị, Huỳnh Tịnh Của lại cho “nóp” là từ gốc Chăm. Nhưng dù sao đi nữa thì nó cũng chỉ ra cái lịch sử lâu đời của cái nóp nói riêng và của nghề đươn đệm nói chung.
4. Ở xã Tân Túc (huyện Bình Chánh, TP.HCM) hiện còn ngôi chợ tên Chợ Đệm, nhưng mặt hàng bàng đệm chả là bao so với các mặt hàng khác.
5. Thủ Thêm: Chỉ khu vực giữa Q2 và Q1 (TP.HCM) hiện nay.
6. Tập trung nhất là ở xã Mỹ Hạnh (Đức Hòa - Long An).








