Nghề đúc đồng cổ
1. Sự hình thành và phát triển nghề đúc cổ
![]() |
Bảng 1: |
Nghề đúc đồng ở nước ta có từ 4000 – 3000 năm trước Công nguyên, thường xuất hiện những làng ven sông có dòng chảy bắt nguồn
![]() |
Bảng 2: |
Các phường đúc cổ còn truyền lại đến nay có
![]() |
Bảng 3: |
Người Việt cổ đã đúc ra các công cụ sản xuất, vũ khí, nhạc khí và đồ trang sức. Rìu lưỡi cong có lỗ tra cán có kích thước dài 70 - 80 mm rộng 50 - 70 mm. Giáo có họng tra cán dài bằng một phần tư tới một phần ba chiều dài thân giáo, mặt cắt lưỡi giáo có hình thoi. Lao dài đến 148 mm rộng 53 mm, họng lao dài 68 mm rộng 31 mm, chuôi lao dài 31 mm, sống dao dầy 4 mm, lưỡi lao mỏng, mũi lao nhọn. Qua có nhiều loại khác nhau với chiều dài 300 - 700 mm, nặng từ 0,8 đến 2 kg, hai mặt qua có hoa văn trang trí. Đồ trang sức thường là vòng đeo tay có đường kính khoảng 40 mm, đường kính thân vòng 4 - 5 mm. Trống đồng có nhiều loại với nhiều kích thước khác nhau. Có cái cao 310 mm đường kính mặt trống 460 mm, có cái cao 390 mm đường kính mặt trống 570 mm: hoa văn trên trống rất đẹp và tinh xảo. Thường mặt trống có hình mặt trời nổi ở giữa với mười tia cánh, ở bên ngoài có các vòng tròn và có các hình chữ S, hình chim hạc... Ngoài ra còn có các tượng động vật, tượng người, chuông, tượng Phật.
2. Thành phần hợp kim đúc
Hợp kim đúc là đồng thanh, thành phần của nó tùy thuộc từng vùng và từng loại sản phẩm (bảng 1 – 3). Ngày nay người ta còn dùng cả đồng thau.
3. Khuôn đúc
Khuôn đúc đầu tiên được đục khoét từ đá. Khuôn đá chỉ chế tạo được các sản phẩm có hình dạng đơn giản. Sau này người ta biết chế tạo khuôn bằng đất. Khuôn đất có hai lớp, lớp bên trong tạo hình vật đúc, lớp bên ngoài làm tăng bền cho khuôn. Để cho khuôn có độ bền cao đúc được các vật đúc lớn, khuôn có cốt bằng tre bên trong và bó thêm tre ở bên ngoài. Khuôn được ghép từ nhiều mảnh. Ruột cũng được làm bằng đất. Thành phần hỗn hợp làm khuôn có khác nhau. Lớp bên trong gồm sét chịu lửa chiếm 50 - 55%, tro trấu 25 - 30%, ngoài ra còn thêm sơ gai, sơ giấy bản 10 - 15%. Tro trấu có tác dụng làm giảm độ co nứt và tạo độ thoáng khí cho khuôn, sơ giấy làm tăng bền cho khuôn. Thành phần hỗn hợp làm khuôn bên ngoài chủ yếu là sét chịu lửa và trấu. Trấu có tác dụng làm tăng độ thông khí và chống nứt khuôn, nên phải dùng cốt tre tăng bền cho khuôn. Chất lượng đất sét có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng khuôn (bảng 3).
Công việc chế tạo khuôn rất công phu và đòi hỏi kỹ năng tay nghề cao. Hỗn hợp làm khuôn trộn đều với nhau và phải được ngâm kỹ rồi nện cho đến dẻo. Hỗn hợp được cán thành lớp mỏng rồi dát in lên mẫu để khô rồi lại bồi tiếp cho đến khi đạt độ dày cần thiết. Khi khuôn đã se thì dỡ dần từng miếng khuôn ra sửa đạt đến độ nét cần thiết. Sau đó ráp khuôn và bó chắc lại rồi đem sấy và nung khuôn. Khuôn nung xong phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi đúc rót. Khi làm khuôn phải chú ý bố trí hệ thống rót và thoát hơi hợp lý.
4. Đúc mỹ thuật hiện đại
Hiện nay đúc mỹ thuật đã phát triển đến rất tinh xảo, kỹ thuật đúc cũng rất đa dạng và phong phú. Bên cạnh phương pháp đúc cổ truyền là đúc trong khuôn đất, còn có các phương pháp đúc tiên tiến khác như đúc mẫu chảy, đúc mẫu cháy, đúc chính xác bằng mẫu cứng, đúc theo phương pháp Shoy, đúc trong khuôn tự cứng, đúc trong khuôn thạch cao. Có thể đúc rót tĩnh, đúc rót ly tâm, hoặc đúc rót trong khuôn chân không.
Ở nước ta hiện nay, khi đúc các tượng lớn, đúc chuông dùng phương pháp đúc trong khuôn đất. Lò nấu đồng có thể là lò thổi bễ gia truyền ngày xưa, lò nồi đốt than, hoặc lò trung tần. Người ta chỉ chú ý nhiều đến thành phần hợp kim đúc chuông, còn thành phần hợp kim đúc tượng, đúc khánh, đúc lư đỉnh chưa được chú trọng. Việc đúc đồ trang sức thường dùng phương pháp đúc mẫu chảy, khuôn thạch cao, rót ly tâm. Nhưng khi cần chế tạo các đồ trang sức đặc biệt mang tính nghệ thuật cao, vẫn dùng phương pháp đúc thủ công truyền thống.
Khi đúc phục chế, đã dùng nguyên bản làm mẫu, hoặc làm mẫu bằng thạch cao phỏng theo vật. Khuôn đúc có thể được là khuôn đất hoặc khuôn tự cứng làm theo phương pháp Shoy.
5. Kết luận
Nghề đúc mỹ thuật ở nước ta đã có từ rất sớm. Đến nay ở các phường xã còn nhiều nghệ nhân, tuy nhiên họ đã già và nếu không được đúc kết kịp thời thì rất nhiều kinh nghiệm quý báu của cha ông sẽ bị mai một. Do vậy cần có những công trình nghiên cứu tổng kết đánh giá lại nhằm bảo tổn vốn đúc cổ.
_______________
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Giang Hải, Nghề luyện kim cổ ở miền Đông Nam Bộ Việt Nam , NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001
2. Đinh Quảng Năng, Vật liệu làm khuôn cát, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2003.











