Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 06/08/2007 23:42 (GMT+7)

Nghề đan đát ở Cần Thơ

Nghề đan đát vốn là nghề truyền thống của xóm Giá, làng Yên Hạ, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, vốn do những người thợ thủ công ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi mang đến. Họ vốn là những người nông dân, do sinh sống ở vùng đất khô cằn và chật hẹp, năng suất lúa không cao nên thường làm những nghề phụ để giảm bớt khó khăn cho cuộc sống gia đình.

Những khi nông nhàn, họ sử dụng nguyên liệu tre trúc vốn có sẵn trong xóm, làng, đan thành vật đựng hay nông cụ để bán hoặc đổi lúa cho bà con quanh vùng. Sau này việc mua bán trao đổi được tiến hành ở diện rộng hơn, tới cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Vào những năm 1940, nhận thấy nhu cầu của bà con ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đối với các đồ đan là rất lớn do nhu cầu sản xuất như sạ lúa, suốt lúa, phơi, đong lúa… họ đã dùng ghe bầu, nương theo gió, vượt biển chở những đồ đan bán thành phẩm vào Nam qua ngả Bến Tre rồi từ đó toả đi khắp các vùng đồng bằng Nam bộ trao đổi lấy thóc gạo.

Đồ đan lúc ấy thường là các loại thúng nhưng mới chỉ là những tấm mê đã đan đát. Vành thúng cũng là những thanh tre mới qua sơ chế, được cắt, chẻ với kích cỡ vừa tầm thuyền để chuyên chở được nhiều. Trên đường đi những người thợ thủ công lại tiếp tục một số công đoạn như làm vành thúng. Khu vực họ dừng chân để bán hàng cũng chính là nơi họ muớn đất cất nhà tạm để hoàn thiện sản phẩm rồi mang bán tới khi hết lại trở về quê để năm sau cũng vào khoảng thời gian đó lại quay trở lại.

Khoảng những năm 1950 phương tiện chuyên chở được thay thế bằnh xe tải hoặc xe lửa, với những phương tiện này lợi nhuận được tăng lên vì số lượng chuyên chở được nhiều hơn, nhanh hơn và chi phí cũng ít hơn do vậy số lượng người theo nghề đan cũng tăng lên.

Từ giữa những năm 1960, do chiến tranh ác liệt, việc đi lại khó khăn cả đường bộ cũng như đường thuỷ, rất ít người còn theo được nghề. Được coi là Tây đô của vùng đồng bằng Nam Bộ, tỉnh Cần Thơ luôn có vị thế rất đắc địa với những người làm nghề đan đát, họ định cư hẳn ở Yên Hạ và bắt đầu khai thác nguồn nguyên liệu quanh vùng để đan. Do những người làm thúng ở đây nên Yên Hạ từ tên thường gọi là xóm Giá trở thành xóm Thúng, nhiều người còn được kèm chữ thúng và thứ bậc mà thành tên gọi, ví dụ anh Ba Thúng, chị Năm Thúng…

Khoảng những năm 1976 – 1979, được xem là lúc hưng thịnh nhất làng nghề bởi đất nước đã thống nhất, công việc tăng gia sản xuất được đẩy mạnh, nhu cầu về đồ đan đát rất lớn và nguồn nguyên liệu tại chỗ dồi dào lại ít người làm. Thúng bán nhanh, được giá, thu nhập của người đan thúng rất cao so với làm các nghề khác nhiều cư dân trong vùng cũng bắt đầu theo nghề đan.

Vào những năm 1980 số lượng người theo nghề đan thúng tăng lên, nguồn nguyên liệu ít dần và phải vận chuyển xa hơn nên tiền công và lợi nhuận giảm xuống.

Từ năm 1990 trở lại đây nền kinh tế trong vùng phát triển nhanh hơn, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ đã ảnh hưởng rất nhiều đến làng nghề đan đát ở Yên Hạ. Nhiều nông dân khi có tiền đền bù đất đai không còn theo nghề nữa đồng thời nguồn cung cấp nguyên liệu cũng bị thu hẹp giá thành sản phẩm không tăng, lợi nhuận của nghề không cao nên chỉ nhưng người túng thiếu mới làm, câu ca “ cùng nghề đan thúng, túng nghề đan nia” đã phản ánh hiện thực của người làm nghề đan đát ở nơi đây. Thêm vào đó là sự lấn át của đồ nhựa, tuy không phù hợp bằng đồ đan nhưng chiếm ưu thế bởi kiểu dáng, màu sắc đa dạng, giá thành lại rẻ hơn.

Nguyên liệu và dụng cụ

Nguyên liệu đơn giản chỉ có tre, nứa, dây mây hoặc dây nilông.

Dụng cụ cũng là đồ dùng thông thường như rựa chặt, chấn vành, dao chẻ, dao vót nan để đan, cưa nhỏ cắt khúc, đục, thước đo, khuôn miệng thúng, vồ nện và dùi để đưa dây nức vành.

Nguồn cung cấp nguyên liệu gồm tre, nứa đa phần được những người chuyên môn bán tre, nứa mua gom ở các vùng lân cận cách làng khoảng 35 km vận chuyển về bán cho người đan với giá 30.000 đ 35.000 đ/10 cây có chu vi 7 – 8 cm, dài khoảng 4 m, (theo thời giá hiện nay). Dây mây phải đặt mua ở miền Trung, thường đã sơ chế sẵn còn dây nilông bán sẵn tại các chợ trong tỉnh do đó bà con chủ yếu dùng dây nilông.

Tre, nứa được cưa thành đoạn theo mục đích sử dụng như đan thúng đựng khoảng 15 kg gạo (= 20 lít theo cách tính của bà con Nam Bộ) cần cưa đoạn dài 75 cm. Tiếp đến cạo sơ lớp vỏ bên ngoài và chẻ làm 6 – 8 mảnh sau đó cạo bỏ lớp ruột mỏng bám trên bề mặt phía trong và chẻ nhỏ, vứt bỏ ruột lấy cật (lớp da cứng phía ngoài) nếu làm nan đan và vót cạnh lấy một phần da, một phần ruột nếu làm nan đát. Nan đan có bề rộng khoảng 0,6 cm dài đủ 70 cm, nan đát nhỏ hơn, thường ngắn hơn nan đan 3 – 5 cm.

Công việc đan được tiến hành khi đã chuẩn bị xong phần nguyên liệu, cần 120 nan để đan chiếc thúng đựng được 15 kg gạo, kỹ thuật khi dùng loại nan đan chủ yếu là lóng mốt, lóng hai, lóng ba, lóng tư tạo thành một hình vuông, ở 4 cạnh còn các đoạn trúc chưa đan được đẩy vào cho khít để đan đát ở 4 cạnh tạo thành một mê thúng hoàn chỉnh.

Sau khi chặt bỏ các phần thừa cho tấm mê là đến phần lận (bắt vành thúng), trước khi lận mắt mê được nhúng nước cho mềm để dễ lận. Vành thúng dùng để lận là 2 vòng tròn, vót nhẵn (phải được chuẩn bị từ trước), thường làm từ một thành tre dài 1,5 m, rộng 3 cm vót hai đầu để khi buộc thành vòng trong không bị nổi cộm lên. Lận thúng là một công đoạn cần kết hợp cả sự khéo léo và sức mạnh, đối với người có kinh nghiệm không cần phải có hố mà chỉ lấy 4 ghế đẩu làm chỗ đặt vành khuôn để lận mê thúng vào trong vừa khớp tầm của vành xong mới bắt hai vành của thúng vào vị trí rồi lận.

Chấn (chặt) bỏ phần mê thừa và tiến hành nức vành thúng (khâu vành thúng với phần mê tạo thành miệng thúng), dù nức bằng dây mây hay dây ni lông đều phải có chiếc dùi để dùi lỗ trên mê thúng và đưa dây qua. Nếu nức bằng dây mây chiếc thúng sẽ bền và đẹp hơn, vì thế giá cả loại này cũng cao hơn.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm:

Thúng là loại sản phẩm chủ yếu của làng Yên Hạ, được làm và bán quanh năm tại chợ của các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, thời gian bán mạnh nhất trong mỗi năm là các tháng vụ mùa: vụ Đông – Xuân (tháng 1 – 2), vụ Xuân – Hè (tháng 3 – 4), vụ Hè – Thu (tháng 6 – 7).

Giá thành sản phẩm bán cho thương lái từ 20.000 – 22.000 đ/cái, bán lẻ chậm nên giá cao hơn thường 25.000 – 30.000 đ/cái.

Tiền công và lợi nhuận thu được sau bán sản phẩm (trừ các khoản chi phí như mua nguyên vật liệu) khoảng 10.000 đ – 15.000 đ/ngày tuy vậy ở làng nghề Yên Hạ hiện nay, không phải ai cũng đủ các điều kiện để có thể thực hiện khép kín các công đoạn của nghề đan đát, từ việc chuẩn bị nguyên vật liệu đến nhân công đan đát. Có gia đình đủ vốn thì lại không đủ người đan, có nhà nhiều người có thể đan được thì lại thiếu vốn, nếu vay để thuê thì thu nhập thấp không ai đi mua, chặt, chẻ trúc được nên việc thuê mướn thêm người gia công vẫn rất cần thiết. Giá gia công hiện nay là 1.500 đ/mê, đát là 2.000 đ/mê. Trung bình mỗi ngày có thể được từ 15.000 – 20.000 đ/người.

Với giá gia công, nguyên liệu và thành phẩm hiện nay một thúng sản xuất lời được 3.000 đồng.

Những khó khăn, thách thức mà làng nghề đang gặp phải chủ yếu là:

- Giá nguyên liệu cao do nhiều yếu tố như phải vận chuyển xa hơn trong khi giá sản phẩm không tăng là một trong những khó khăn cho người sản xuất.

- Mẫu mã các sản phẩm còn đơn điệu, nghèo nàn nên chưa thực sự hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Các đồ đan phục vụ sinh hoạt hàng ngày hay khách du lịch hoàn toàn bị bỏ ngỏ.

- Với những nguyên nhân trên giá thành sản phẩm vì thế không được bán tăng lên dù đầu vào bị tăng.

- Cho dù được các cấp chính quyền Thành phố Cần Thơ xác định là một nghề thủ công và có sự hỗ trựo về vốn để bà con duy trì và phát triển sản xuất nhưng sự trợ giúp chưa đầy đủ nên kết quả rất hạn chế.

- Do thu nhập của nghề thấp nên ít người muốn học và làm nghề đặc biệt là lớp thanh thiếu niên – lứa tuổi phù hợp nhất để phát triển nghề.

Suy nghĩ về một làng nghề

Dù Cần Thơ có 2 làng nghề đan đát đều của người Việt nhưng nghề đan đát ở xã Thới Thuận, huyện Thốt Nốt đã bị mai một nhiều còn nghề đan đát ở Yên Hạ vẫn duy trì nhưng rất ít. Sẽ rất đáng tiếc nếu nghề đan đát ở Yên Hạ không còn duy trì và phát triển vì trên thực tế nghề đan đát ở Yên Hạ, Cần Thơ là nghề có khả năng phát triển cao bởi từ lâu nay sản phẩm đan (chủ yếu là thúng) của làng Yên Hạ đã nổi tiếng và bán quanh năm tại chợ của các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long như: Chợ Cái Vồn (Vĩnh Long), Lai Vung (Đồng Tháp), Cái Tắc (Hậu Giang), Tân An (Cần Thơ).

Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả nước, chính vì thế nhu cầu về đồ đan phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của bà con ở đây là rất lớn như sạ lúa, suốt lúa, phơi, đong lúa và đựng hoa quả, nhang đèn đội lễ lên chùa trong các dịp lễ hội của dân tộc Khơ me như Chol Chnam Thmei, Oóc om bok… các loại ghe truyền để đi lại.

Làng nghề Yên Hạ có thuận lợi về mặt nhân công, bà con trong làng chủ yếu làm nghề nông, những lúc nông nhàn sẽ tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi khá lớn. Trong làng hiện vẫn còn nhiều người biết nghề và có thể truyền dạy cho người khác, chi phí cho việc dạy và học không đáng kể và “Đây là nghề ai cũng có thể học và làm nghề được, cũng chẳng có ông tổ nghề hay kiêng kị gì (ông Nguyễn Văn Chiến, 73 tuổi, làng Yên Hạ, người kiếm sống bằng nghề đan đát hơn 50 năm).

Đặc biệt làng nằm trong địa bàn có chợ nổi Cái Răng, nơi thu hút rất nhiều khách tham quan hàng năm, nếu làng nghề phát triển sẽ là một địa điểm hấp dẫn cho khách du lịch đồng thời thúc đẩy làng nghề phát triển và đa dạng hoá các sản phẩm của làng, đáp ứng nhu cầu mua quà lưu niệm của khách tham quan.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.