Nâng cao chất lượng môi trường khi thực thi cam kết WTO
Gia nhập WTO sẽ giúp cho việc gắn chặt mối quan hệ của Việt Nam với ASEAN và APEC. Trong khuôn khổ WTO, các cam kết của Việt Nam được dựa trên cơ sở của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và các chương trình tín dụng/hợp tác kinh tế song phương và đa phương. Ngoài ra còn nhiều cam kết về tự do hoá thương mại đầu tư, đặc biệt là chương trình SARC (Ngân hàng thế giới), ESAF (Quỹ tiền tệ quốc tế), chương trình công nghiệp/nông nghiệp (Ngân hàng phát triển châu Á) và chương trình Miyazawa (Nhật Bản).
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi ích dài hạn, nhưng trong thời gian trước mắt, đặt ra không ít thách thức đối với nền kinh tế nước ta. Quá trình hội nhập chỉ có hiệu quả khi xác định được những bước đi hợp lí trong toàn bộ tiến trình từ đàm phán, cam kết đến thực hiện cam kết. Các cơ hội có được trong quá trình hội nhập là thúc đẩy tiến trình cải cách kinh tế trong nước, giúp Việt Nam tránh được tình trạng bị phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại, được hưởng lợi từ các ưu đãi về mở cửa thị trường, khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh, và miễn trừ dành cho các nước đang phát triển, tăng thu hút vốn đầu tư và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cao; tạo lập củng cố lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào cơ chế, chính sách của Việt Nam. Đồng thời góp phần nâng cao vị thế quốc tế cho Việt Nam , tạo ra khả năng tăng cường thế và lực trong thương mại quốc tế. Hội nhập kinh tế sẽ tạo cơ hội để các nhà sản xuất, kinh doanh Việt Nam mở rộng quan hệ, tiếp cận, phương thức quản lý tiên tiến, dám đương đầu với cạnh tranh.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng sẽ gặp phải không ít thách thức trong quá trình hội nhập, trong đó có tác động đến môi trường do khai thác tài nguyên, do mở cửa tiếp nhận công nghệ, thiết bị mà nếu không kiểm soát tốt sẽ là công nghệ bất lợi cho môi trường, kể cả môi trường sinh thái và môi trường xã hôi. Lợi ích hội nhập chỉ là tiềm năng, phụ thuộc vào khả năng khai thác, nắm bắt thời cơ, các thách thức từ thực tế. Để hội nhập thành công và có hiệu quả cần có lộ trình hợp lý gắn liền với những giải pháp, cơ chế chính sách đồng bộ.
Cần chủ động, tích cực trong việc thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các cam kết AFTA, APEC, BTA và các cam kết quốc tế khác, đặc biệt là các cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Cần xây dựng chương trình hành động tổng thể, trong đó có chương trình bảo vệ môi trường, phát triển bền vững trên phạm vi cả nước, của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương và các tổ chức kinh tế. Trên các lĩnh vực cần phấn đấu, hạn chế những khó khăn, vượt qua thách thức, tránh bất lợi và những chừng phạt không đáng có; đồng thời chọn những khâu có lợi thế, tiềm năng, áp dụng các giải pháp mạnh mẽ tạo sự đột phá trong nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Một yêu cầu không kém quan trọng khác, đặt ra đó là chủ động phân tích, dự báo, tính toán, đánh giá các nhân tố và mức độ tác động đến sự tăng trưởng kinh tế, đến thu ngân sách Nhà nước, đến ổn định kinh tế vĩ mô, đến sự trụ vững và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, đến việc làm và đời sống của người lao động, đến bản sắc văn hoá, đến môi trường sống, môi trường sinh thái khi thực hiện các cam kết quốc tế. Để phát huy lợi thế, giảm thiểu thua thiệt, nâng cao khả năng cạnh tranh, cần thống nhất quan điểm phát triển toàn diện, không phát triển khép kín. Cần lựa chọn và phát huy tối đa lợi thế so sánh của Việt Nam trên cơ sở chiến lược và hệ thống các giải pháp tổng thể, dài hạn.
Tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống của nhân dân luôn là mục tiêu trọng tâm của mọi quốc gia, không phụ thuộc vào ý thức hệ và trình độ phát triển. Tuy nhiên sự tăng trưởng kinh tế, tăng cường đầu tư sẽ càng tăng sức ép đối với môi trường, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môi trường, đặc biệt là sự tăng trưởng ở mức cao thì môi trường sống lại là một không gian hữu hạn. Chính vì thế, các quốc gia, bất kể giàu nghèo đều phải phát triển kinh tế hài hoà với các hệ thống môi sinh và tài nguyên thiên nhiên. Bảo vệ môi trường là một trong những mục tiêu cực kỳ quan trọng tạo nên cuộc sống bền vững cho mọi người. Của cải quý nhất mà xã hội hiện tại để lại cho con cháu không chỉ là những thứ do nền kinh tế hiện đại làm ra mà còn chính là những gì mà xã hội giữ gìn được từ sự cân bằng tốt nhất của môi trường sống do thiên nhiên ban tặng. Do đó, khi hoạch định chính sách kinh tế - tài chính cần nhận thức và xác lập các điểm sau đây:
Một là, bảo vệ môi trường sống phải được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng, hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chứ không phải là một vấn đề riêng biệt tách rời quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Hai là, cần đảm bảo sự phát triển bền vững một cách hợp lý trên cơ sở tập trung vào những chiến lược cần thiết để duy trì khả năng thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng tăng của nhân dân.
Những vấn đề cấp bách về môi trường của nước ta hiện nay trong nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập cần tập trung giải quyết nhiệm vụ quản lý tổng hợp tài nguyên của đất nước; hạn chế ô nhiêm, rác thải và quản lý chặt chẽ chất thải, đặc biệt là chất thải rắn; quan tâm cải thiện môi trường đô thị, quản lý tổng hợp các khu công nghiệp, duy trì sự đa dạng sinh học, bảo vệ các vườn quốc gia, khu bảo tồn sinh vật hoang dã.
Ba là, bãi bỏ những sự ưu đãi, những khuyến khích dẫn đến hành động làm suy thoái nguồn tài nguyên và môi trường, áp dụng triệt để nguyên tắc “Trả phí ô nhiễm”, “Thanh toán tiền tiêu dùng”, “Hạch toán môi trường” đảm bảo giá cả hàng hoá, dịch vụ, phản ánh toàn bộ chi phí xã hội kể cả chi phí sử dụng hoặc làm suy thoái nguồn tài nguyên.
Bốn là, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các địa phương tự quản lý môi trường. Chính quyền địa phương là đơn vị chủ chốt bảo vệ môi trường, cần có đủ phương tiện kỹ thuật, lao động và tài chính để quy hoạch, kiểm soát sự phát triển, kiểm soát việc cung cấp nước sạch, xử lý nước thải, rác thải, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, giao thông công cộng, giáo dục..
Năm là, hoàn chỉnh cơ sở pháp lý và bảo vệ môi trường, thúc đẩy các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt việc xây dựng xã hội bền vững và hạn chế các hiện tượng tiêu cực làm suy thoái môi trường.
Sáu là, thực hiện liên kết, phối hợp chặt chẽ đồng bộ giữa các ngành, các cấp trong việc xây dựng các chính sách kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững, thực hiện cam kết hội nhập với thế giới nói chung và WTO nói riêng một cách hiệu quả cần:
Trước hết, tiếp tục hoàn thiện quy định pháp lý, đặc biệt là pháp luật về kinh tế và pháp luật về bảo vệ môi trường. Cần ban hành các quy định pháp luật để điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh tế, các quy trình sản xuất, hoặc các sản phẩm được sử dụng. Đó là các biện pháp, các chế tài buộc người gây ô nhiễm, người xâm hại tài nguyên, môi trường phải huỷ bỏ toàn bộ, hoặc hạn chế bớt một số hoạt động gây tổn hại đối với môi trường trong một phạm vi, một khoảng thời gian, một vùng lãnh thổ hay một lĩnh vực hoạt động. Các biện pháp thường được sử dụng là cấp phép, xác lập các tiêu chuẩn, khoanh vùng lãnh thổ, các quy định về thưởng, phạt… Nói cách khác, đây là công cụ điều chỉnh trực tiếp đối với quan hệ giữa con người và môi trường. Các quy định pháp lý này tác động trực tiếp đến hành vi của các cá nhân, của các tổ chức, đến các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, các công nghệ chế biến và các nguyên liệu dùng cho sản xuất sản phẩm.
Hồ sơ dự án công trình buộc phải có đánh giá tác động môi trường và phương án công nghệ xử lý những tác động xấu tới môi trường (nếu có). Nhìn chung, các quyết định pháp luật có những ảnh hưởng đối với môi trường mạnh hơn, trực tiếp hơn đối với các tổ chức, cá thể chế Nhà nước, các thể nhân. Việc áp dụng các quy định cụ thể này sẽ ngày càng “quen thuộc” hơn các chế tài hành chính.
Thứ hai là việc sử dụng các chính sách, công cụ kinh tế, tài chính. Đó là các biện pháp khuyến khích hoặc hạn chế được xây dựng trên cơ sở các quy luật thị trường, để hướng dẫn và điều chỉnh hành vi của con người ngay từ giai đoạn chuẩn bị cho đến khi thực hiện các quyết định đầu tư kinh doanh. Các biện pháp khuyến khích hay hạn chế kinh tế cho phép cân nhắc, trù tính kỹ giữa cái “được” cái “mất” của từng phương án hành động, nhằm tạo điều kiện cho việc lựa chọn phương án có lợi nhất cho môi trường. Các chính sách và công cụ tài chính cho phép người hoạt động kinh tế liên quan đến môi trường có nhiều khả năng lựa chọn linh hoạt các quyết định. Nói cách khác, các chính sách, công cụ tài chính là các khuyến khích hoặc hạn chế về tài chính làm cho mọi người tự nguyện thực hiện các hoạt động có lợi, thân thiện hơn đối với môi trường. Vì lợi ích mà những người gây ô nhiễm, hoặc làm tổn hại đến môi trường, phải quan tâm đến việc hạn chế hoặc giảm mức tối đa những tác hại. Các chính sách, công cụ kinh tế, tài chính cho phép nhà lập pháp, các nhà hoạch định chính sách và các nhà kinh doanh có những khả năng lựa chọn rộng rãi hơn, hiệu quả hơn để thực thi các mục tiêu bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường. Các chính sách, công cụ tài chính tạo ra các động cơ khuyến khích, thúc đẩy người gây ô nhiễm, huỷ hoại môi trường phải giảm bớt mức phát thải ô nhiễm, hoặc áp dụng các công nghệ sạch hơn. Tính linh hoạt và kinh tế là hai yếu tố quan trọng làm cho các chính sách, công cụ tài chính ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn.
Các chính sách kinh tế, trước hết là chính sách đầu tư bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường, trong đó đầu tư gián tiếp từ ngân sách Nhà nước, đầu tư gián tiếp thông qua các chính sách kinh tế - xã hội và đầu tư lồng ghép trong các chương trình mục tiêu. Sử dụng rộng rãi và có hiệu quả chính sách, công cụ thuế, vừa khuyến khích và nâng đỡ các hoạt động kinh tế có lợi cho môi trường, nâng cao chất lượng môi trường; đồng thời, thu hẹp, kìm hãm các hoạt động kinh tế, ngành nghề, mặt hàng gây ô nhiễm, huỷ hoại, tàn phá môi trường. Thuế có thể áp dụng là Thuế Tài nguyên; hoặc thuế phí đánh vào các loại xe có động cơ và thiết bị gây ô nhiễm môi trường; các loại phí và lệ phí đánh vào các nguồn phát sinh ô nhiễm; phí đánh vào người sử dụng; phí đánh vào sản phẩm. Bên cạnh đó, có thể và cần sử dụng các biện pháp, các hình thức hỗ trợ về tài chính, thu tiền ký quỹ, tiền cam kết. Tăng cường đầu tư cho chương trình kế hoạch hoá dân số, xoá đói giảm nghèo, tăng đầu tư vốn để cải thiện môi trường đô thị và nông thôn. Trong các trường hợp cần thiết có thể dùng các biện pháp cưỡng chế tài chính đối với việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường và giảm thiểu ô nhiễm.
Thứ ba, là các biện pháp tuyên truyền, thuyết phục, hướng dẫn. Tuyên truyền là công cụ nâng cao nhận thức, ý thức và tinh thần trách nhiệm về bảo vệ môi trường khi ra quyết định, hoặc nhằm vào việc đạt được các quyết định có lợi hơn cho môi trường. Hướng dẫn, thuyết phục giúp thay đổi hành vi thói quen đang gây tổn hại đến môi trường, để nâng cao chất lượng môi trường.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ sự viện trợ của các tổ chức quốc tế để có nguồn tài trợ cho hoạt động bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường, xây dựng cuộc sống bền vững trên trái đất đã trở thành nghĩa vụ của tất cả các nước trên thế gới. Cần mở rộng sự hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Hiệp hội quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UENP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), cũng như các tổ chức phi chính phủ, các hội chuyên hoạt động về môi trường nhân đạo. Mặt khác cần tranh thủ thoả thuận, chuyển nợ nước ngoài thành viện trợ dành cho bảo vệ thiên nhiên và xây dựng cuộc sống bền vững.
Nguồn: T/c Kinh tế môi trường, số Tết Đinh Hợi, 2007, tr2,3,11.








